Nghị luận văn học: Nghị luận về giá trị một tác phẩm, đoạn trích

1. Khái niệm

Nghị luận về giá trị của tác phẩm, đoạn trích là làm sáng tỏ giá trị tư tưởng mà tác giả gửi gắm.

2. Đặc điểm

– Nghị luận về giá trị hiện thực hoặc giá trị nhân đạo của tác phẩm.

* Ví dụ: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của tác giả Nguyễn Dữ.

3. Dàn ý chung

* Mở bài

– Giới thiệu ngắn gọn những nét chính về tác giả, tác phẩm.

– Giới thiệu về giá trị hiện thực/ giá trị nhân đạo của tác phẩm

* Thân bài

– Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác

– Nêu khái quát nội dung cốt truyện.

– Giải thích khái niệm hiện thực/ nhân đạo.

– Phân tích các biểu hiện của giá trị hiện thực/ nhân đạo trong tác phẩm.

– Đánh giá về giá trị hiện thực/ nhân đạo của tác phẩm.

* Kết bài: Đánh giá ý nghĩa vấn đề trong sự thành công của tác phẩm.

4. Đề minh họa

Đề 1. Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

Gợi ý dàn bài

Mở bài– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

+ Nguyễn Dữ: tác giả tiêu biểu của nền văn học Trung đại Việt Nam thế kỉ XVI. Sống trong cảnh chế độ phong kiến mục nát, ông chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn.

+ Tác phẩm: Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của cuốn Truyền kì mạn lục, có nguồn gốc từ truyện cổ tích Việt Nam Vợ chàng Trương.

+ Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết oan khuất của Vũ Nương, nhà văn thể hiện niềm thương cảm đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ có phẩm chất tốt đẹp nhưng phải chịu số phận bất hạnh. Gía trị nhân đạo là yếu tố làm nên thành công của tác phẩm. 

Thân bài* Làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Nguyễn Dữ ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ:

+ Vũ Nương là người con gái thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh hay ghen, đa nghi nên nàng luôn biết giữ gìn khuôn phép, không bao giờ để xảy ra thất hòa.

+ Khi Trương Sinh đi lính, nàng không màng danh lợi, giàu sang, chỉ mong ngóng ngày chồng trở về mang theo được hai chữ bình yên.

+ Ở nhà, nàng hết mực chăm sóc mẹ chồng và bé Đản. Mẹ mất, nàng đau xót, ma chay tế lễ rất chu đáo. Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo, một người vợ yêu chồng, thủy chung, đảm đang, một người mẹ hiền hết mực chăm sóc con.

+ Khi bị nghi oan, Vũ Nương dùng những lời lẽ ngọt ngào, tha thiết, ngay thẳng để giải thích, mong muốn cứu vãn cuộc hôn nhân.

+ Nàng là người phụ nữ coi trọng phẩm hạnh, danh tiết, sự trong sạch.

=> Nguyễn Dữ ngợi ca, yêu mến, trân trọng vẻ đẹp phẩm chất truyền thống của người phụ nữ.

Nguyễn Dữ xót xa, thương cảm cho số phận bất hạnh của ngườiphụ nữ.

+ Người phụ nữ là nạn nhân của chế độ phong kiến nam quyền, hôn nhân không có tình yêu và tự do. Sự cách bức giàu – nghèo khiến Trương Sinh có thể đối xử thô bạo, gia trưởng với nàng.

+ Người phụ nữ là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Khi lấy chồng, cuộc sống gia đình hạnh phúc chưa được bao lâu thì đã chia lìa xa cách. Chàng đi lính, để lại mình Vũ Nương với mẹ già và đứa con chưa chào đời. Suốt ba năm, một mình Vũ Nương phải lo toan mọi công việc gia đình. Nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Thế nhưng, khi Trương Sinh về, vì đa nghi, chàng đẩy gia đình đến cảnh tan vỡ, đẩy Vũ Nương vào cái chết.

+ Kết thúc truyện, Vũ Nương trở về. Tưởng chừng kết thúc có hậu, hóa ra cũng chỉ tô đậm tính chất bi kịch, đau xót trong thân phận Vũ Nương.

=> Đó là số phận bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Họ có phẩm chất tốt đẹp nhưng cuộc đời luôn bị người vùi dập, đắng cay. Nguyễn Dữ đã lên tiếng tố cáo xã hội phong kiến, chiến tranh phi nghĩa, và xót xa, thông cảm với họ, khóc thương cho họ. Đó là tiếng lòng nhân đạo của tác giả.

Kết bàiKhẳng định: Gía trị nhân đạo làm tác phẩm trở nên sâu sắc. 
Đề 2. Giá trị hiện thực và nhân đạo trong Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du.

Gợi ý dàn bài

Mở bài– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích:

+ Nguyễn Du – nhà thơ tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX – danh nhân văn hóa thế giới. Ông đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều cảnh đời gian truân nên ông có một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với mọi kiếp người bị đày đọa. Ông hiểu biết sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc.

+ Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, sáng tác dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất cho nền văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

+ Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích tiêu biểu cho giá trị của Truyện Kiều.

Thân bài–  Đoạn trích nằm ở phần thứ hai Gia biến và lưu lạc. Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục, bị Tú Bà mắng nhiếc, Kiều nhất định không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh. Nàng định tự vẫn. Tú Bà sợ mất vốn liếng nên dùng lời ngon ngọt dụ dỗ Kiều. Mụ vờ chăm sóc, thuốc thang và hứa hẹn sẽ gả nàng cho một nơi tử tế. Tú Bà ngấm ngầm đưa Kiều ra lầu Ngưng Bích giam lỏng, đợi thực hiện âm mưu mới.

Gía trị hiện thực:

+ Hoàn cảnh của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích: thực chất là bị giam lỏng, khóa kín tuổi xuân – khóa kín tự do. Nàng một mình trơ trọi giữa một không gian mênh mông, hoang vắng. Từ trên lầu cao nhìn ra xa chỉ có dãy núi, tấm trăng, những cồn cát vẩn bụi hồng. Tưởng chừng ở chung là có sự san sẻ, sum vầy, nhưng thực chất, Kiều lẻ loi, chơ vơ, không một bóng hình thân thuộc để bầu bạn, sẻ chia. Cảnh vật mênh mông, rợn ngợp nhưng con người thì nhỏ bé, cô đơn, số phận lênh đênh vô định, tương lai mù mịt.

=> Thông qua việc khắc họa số phận, tình cảnh của Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du muốn tố cáo xã hội phong kiến, xã hội của đồng tiền. Từ cuộc sống Êm đềm trướng rủ màn che, sóng gió bất kì đẩy nàng phải vào chốn lầu xanh. Trong xã hội ấy, chỉ một lời vu oan của thằng bán tơ mà cha và em Kiều bị bắt giam. Xã hội ấy đầy sự lừa lọc, nham hiểm. Những Mã Giám Sinh, Tú Bà, … sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác, chỉ vì những đồng tiền nhơ bẩn. 

Giá trị nhân đạo:

+ Nguyễn Du thấu hiểu, cảm thông với tình cảnh, số phận của nàng Kiều. Ông đã đứng từ điểm nhìn tâm trạng của nhân vật để cho thấy sự bẽ bàng, chán ngán, buồn tủi, cô đơn:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

+ Nguyễn Du đã khắc họa tâm trạng nhớ thương Kim Trọng, nhớ thương cha mẹ của Kiều qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm. Nàng thương cho Kim Trọng mỏi mòn chờ đợi tin tức của mình mà không thấy. Nàng xót xa cho cha mẹ, tuổi đã già mà không có ai chăm sóc.

=> Bên cạnh sự thấu hiểu, sẻ chia tình cảnh cô đơn, bẽ bàng của Kiều, Nguyễn Du còn làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn đáng quý của người con gái ấy. Đó là sự vị tha. Trong tình cảnh ấy, đáng nhẽ Thúy Kiều phải than thân trách phận, phải xót xa cho chính mình trước tiên. Thế nhưng, quên đi cảnh ngộ của bản thân, Kiều lại dành tình yêu, nỗi nhớ, sự xót xa để nghĩ về Kim Trọng và cha mẹ. Ta thấy Kiều là một người yêu thủy chung son sắt, là một người con hiếu thảo. Nguyễn Du đã ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của Kiều. Đó là tiếng nói đầy lòng nhân đạo. 

+ Nguyễn Du đã khắc họa bốn bức tranh tâm cảnh của nhân vật thông qua nghệ thuật độc thoại nội tâm, bút pháp tả cảnh ngụ tình. Sống trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, thật hiếm người có thể đau với nỗi đau của những phụ nữ như Nguyễn Du. Ông thấu hiểu nỗi nhớ nhà, thấu hiểu tâm trạng thảng thốt lo âu, dự cảm hãi hùng của người con gái đang bước giữa dòng đời ngang ngược. Điệp từ Buồn trông đã gợi tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau, ngày càng tăng tiến, dồn dập, dai dẳng, đeo bám lấy tâm hồn Kiều. Ẩn sau tâm trạng đó mà cái nhìn đồng cảm, thương xót, sẻ chia của Nguyễn Du.

Kết bàiKhẳng định lại vấn đề: Màu sắc hiện thực, nhân đạo đã làm tác phẩm trở nên sâu sắc, có sức lay đọng lòng người.

Làm chủ kiến thức ngữ văn 9 – Luyện thi vào 10 (Phần II)

Tác giả: Phạm Trung Tình