Nghị luận văn học: Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

50

1. Khái niệm

Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.

2. Đặc điểm

– Nghị luận về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm hoặc đoạn trích.

– Nghị luận về một phương diện, khía cạnh của nội dung và nghệ thuật trong một tác phẩm hoặc đoạn trích.

* Ví dụ: “Truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng là một câu chuyện cảm động về tình cha con trong hòan cảnh éo le”. Em hãy phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ nhận định trên.

3. Dàn ý chung

* Mở bài

– Giới thiệu ngắn gọn những nét chính về tác giả và tác phẩm.

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.

* Thân bài

– Khái quát về tác phẩm và vị trí đoạn trích.

– Phân tích nội dung và nghệ thuật theo yêu cầu của đề.

– Bình luận, đánh giá về tác phẩm hoặc đoạn trích.

* Kết bài: Nhận xét, đánh giá khái quát tác phẩm, đoạn trích.

4. Đề minh họa

Đề 1. Em cảm nhận của em về đoạn trích sau:

Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ theo dõi mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới.

Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Đầu này có vẽ hai vòng tròn màu vàng…

Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Đất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên. Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Hoặc là nóng từ bên trong quả bom. Hoặt là mặt trời nung nóng.

Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi, Ngữ văn 9, tập hai

Nhà xuất bản Giáo dục, 2015

Gợi ý dàn bài

Mở bài– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích:

+ Nhà văn Lê Minh Khuê: Cây bút chuyên viết về truyện ngắn. Lê Minh Khuê làm thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Mỹ. Với trải nghiệm cuộc sống chiến trường, nhà văn có những trang viết rất chân thực, sinh động về cuộc sống chiến đấu của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn.

+ Những ngôi sao xa xôi là một trong những tác phẩm thành công của Lê Minh Khuê. Truyện được sáng tác năm 1971, lúc cuộc kháng chiến đang diễn ra ác liệt, gay go. Những ngôi sao xa xôi như một bài ca ca ngợi tinh thần kháng chiến anh dũng và vẻ đẹp tâm hồn của những nữ thanh niên xung phong.

+ Đoạn trích khắc họa khung cảnh nhân vật Phương Định phá bom.

Thân bài– Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, Phương Định xung phong ra mặt trận, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Cuộc sống chiến trường nhiều khó khăn, hiểm nguy đã tôi luyện ở Phương Định lòng quả cảm, không sợ hy sinh. Tâm lí của Phương Định trong một lần phá bom được miêu tả rất chi tiết ở trong đoạn trích.

– Đoạn văn khắc họa khung cảnh và không khí căng thẳng, nguy hiểm của việc phá bom: Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ …. Tác giả đã sử dụng những câu trần thuật đơn, với cách ngắt nhịp dồn dập, tạo không khí căng thẳng.

– Phương Định có nét tâm lí con gái. Mặc dù đây là một công việc rất quen thuộc nhưng không tránh khỏi những hồi hộp, căng thẳng: Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không?

– Sự dũng cảm của Phương Định được kích thích bởi lòng tự trọng.Cảm giác như có ánh mắt của các anh chiến sĩ dõi theo, Phương Định không đi khom mà dõng dạc, đường hoàng, ngay thẳng ngẩng cao đầu bước tới quả bom. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật độc thoại nội tâm để cho thấy những nét biến chuyển tinh vi trong tâm hồn nhân vật. Thông qua đó, nhà văn khắc họa phẩm chất anh dũng, kiên cường, hiên ngang của người nữ thanh niên xung phong khi đối diện với cái chết.

– Đối diện với quả bom, cận kề với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người cũng trở nên sắc nhọn: Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi.Nhà văn đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác sắc đến gai người để nhấn mạnh sự nguy hiểm của công việc phá bom.

– Bằng bản lĩnh, sự tự tin, kinh nghiệm, Phương Định thấy vỏ quả bom đang nóng lên, một dấu hiện chẳng lành. Bỏ qua những khó khăn, nguy hiểm, Phương Định tự giục mình làm nhanh hơn để hoàn thành công việc. Phương Định không nghĩ tới cái chết, không màng tới sự sống, điều cô quan tâm nhất là làm sao hoàn thành tốt được công việc.

– Nghệ thuật: Câu trần thuật đơn, câu rút gọn, nhịp ngắt dồn dập, nghệ thuật độc thoại nội tâm, phân tích tâm lí nhân vật độc đáo, tạo tình huống kịch tính, điểm nhìn của tác giả hòa lẫn vào điểm nhìn tâm trạng của nhân vật để tạonên không khí căng thẳng, hiểm nguy và khắc họa tâm lí Phương Định. Thông qua đó, ta thấy rõ phẩm chất anh dũng, kiên cường của nhân vật. Đó là phẩm chất tiêu biểu cho thế hệ trẻ thời kì kháng chiến chống Mỹ.

Kết bàiPhương Định là một hình tượng đẹp, tiêu biểu cho thế hệ thanh niên trong thời kì kháng chiến. Chúng ta yêu mến, cảm phục và luôn biết ơn vì sự hy sinh lớn lao của họ.

Đề 2.

Sau khi tổ chức duyệt binh, vua Quang Trung tập hợp binh sĩ và nói với họ lời dụ:

Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Bắc, phương Nam chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc, không phải nòi giống nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu đời. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!

(Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô gia văn phái)

Lời dụ trên nói tới nội dung gì? Em hãy phân tích để làm rõ những nội dung đó trong một đoạn văn ngắn.

Dàn bài gợi ý

Bài làm của em cần đạt được những nội dung cơ bản sau:

  • Sau khi tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, Quang Trung Nguyễn Huệ đốc thúc đội quân tiến ra Bắc Hà. Ra đến Nghệ An, ông cho kén lính và tổ chức duyệt binh, rồi nói lời dụ.
  • Nội dung lời dụ:

+ Nguyễn Huệ khẳng định chủ quyền của dân tộc: đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng. Lời dụ của Nguyễn Huệ khiến ta liên tưởng đến bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt:

Nam quốc sơn hà nam đến cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Và bài Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi có viết:

Từ đời Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

Khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc, Nguyễn Huệ muốn khơi gợi lòng yêu nước trong mỗi binh sĩ.

+ Nguyễn Huệ lên án, tố cáo hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của quân Thanh, nêu lên tội ác của quân giặc, và giã tâm của chúng: bụng dạ ắt khác, cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân ta, vơ vét của cải, … Quang Trung muốn khơi gợi trong quân sĩ lòng căm thù giặc, ý chí quyết tâm đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

+ Quang Trung nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta ở nhiều triều đại khác nhau: Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, …

+ Cuối cùng, Quang Trung kêu gọi quân lính đồng tâm hiệp lực, ra kỉ luật nghiêm minh để xác lập một kỉ cương chặt chẽ, góp phần tạo nên sức mạnh quân đội.

  • Mục đích nói lời dụ: Để cho binh sĩ hiểu: Trận đánh này là vì độc lập, tự do

của Tổ quốc, bảo vệ sự yên bình của quốc gia, tuyệt nhiên không vì chức đế vương của một ai. Muốn vậy, tất cả binh sĩ phải đồng lòng, quyết tâm đánh giặc.

Đề 3. Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2011) của nhà văn Kim Lân khi nghe tin làng mình theo giặc.

Gợi ý dàn bài

Mở bài– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật ông Hai.

– Giới thiệu nội dung cần nghị luận: Tâm trạng của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

Thân bàiPhân tích diễn biến tâm trạng ông Hai:
– Khi nghe tin làng theo giặc, ông bàng hoàng, sững sờ: Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân, tưởng như không thở được. Đó là cái tin vượt quá sức tưởng tượng của ông, chưa bao giờ ông dám nghĩ đến. Nó đến với ông quá bất ngờ, khiến ông đau đớn.

– Ông nghi ngờ, cố chưa tin, ông hỏi lại: Có thật không hở bác? Hay là chỉ lại … Nhưng khi cái tin ấy được khẳng định từ chính miệng những người dân tản cư, ông không thể thông tin. Từ lúc ấy, tâm trạng ông bị ám ảnh, day dứt. Người ta nói làng Chợ Dầu theo Tây cũng như là đang nói chính ông vậy. Từ lúc đó, tâm trạng ông bị ám ảnh, day dứt với mặc cảm mình là kẻ phản bội. Ông đánh trống lảng ra về, giọng lạc hẳn đi: Hà, nắng gớm, về nào … Lúc về, ông cứ cúi gằm mặt xuống mà đi. Ông tủi hổ, và dường như không muốn để ai nhìn thấy mình.

– Về đến nhà, ông tủi thân, nằm vật ra giường. Nhìn lũ trẻ đang chơi, ông thương con. Chúng nó còn quá nhỏ, chúng nó vô tội. Rồi đây cuộc sống của chúng sẽ ra sao, vì chẳng ai người ta chứa kẻ phản bội, theo Tây.

– Ông sống trong tâm trạng nơm nớp lo sợ, xấu hổ, nhục nhã. Cứ nghe thấy bên ngoài xì xào, thoáng nghe thấy tiếng Tây, Việt gian, cam nhông là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thậm chí, đêm ông trằn trọc, lo âu không ngủ được.

– Ông đau khổ, tủi hờn, xấu hổ khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi người làng Chợ Dầu, đuổi gia đình ông đi nơi khác. Ông lo lắng rồi đây sẽ mang con cái, gia đình đi đâu. Ai người ta chứa?

– Ông Hai bị đẩy vào đường cùng, tâm trạng vô cùng bế tắc, tuyệt vọng. Trong nội tâm, ông luôn đấu tranh, xằng xé giữa hai sự lựa chọn: Về làng hay đi theo kháng chiến. Nhưng ý nghĩ về làng vừa nhen nhóm, ông đã gạt phắt đi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, sẽ trở thành người phản bội, sẽ trở thành nô lên cho Tây, sẽ đánh mất danh dự và lòng tự trọng. Không thể chia sẻ với ai, ông tâm sự với đứa con út, cũng là tự nói với chính lòng mình, khẳng định lại niềm tin của mình với kháng chiến. Ông Hai đi đến quyết định: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù. Ông Hai đã để tình yêu nước bao trùm lên tình yêu làng.

– Diễn biến tâm trạng ông Hai được khắc họa một cách tinh tế, sinh động. Tác giả sử dụng nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật, đối thoại, độc thoại, xen lẫn với độc thoại nội tâm. Tâm trạng của nhân vật được bộc lộ qua các ý nghĩ, hành động, nét mặt, cử chỉ, ngôn ngữ đậm chất nông dân. Điều đó chứng tỏ Kim Lân phải am hiểu sâu sắc tình cảm của người nông dân.

– Lòng yêu làng, yêu nước của ông Hai là điển hình cho lòng yêu làng, yêu nước của những người nông dân trong kháng chiến chống Pháp lúc bấy giờ.

Kết bài–  Khẳng định sự yêu quý, tôn trọng đối với tinh thần yêu nước, yêu làng của nhân vật.

– Khẳng định sự thành công của tác phẩm và tài năng của nhà văn Kim Lân.

Làm chủ kiến thức Ngữ văn 9 – Luyện thi vào 10 (Phần II)

Tác giả: Phạm Trung Tình