Văn bản: Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ

789

I. Những nét chính về tác giả – tác phẩm

1. Tác giả

– Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc nhất của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm.

– Ông sống ở thế  kỉ XVI, khi triều đình nhà Lê bắt đầu rơi vào khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền binh và gây ra những cuộc nội chiến kéo dài.

Về con người:

+ Nguyễn Dữ nổi tiếng là người học rộng tài cao.

+ Là một “kẻ sĩ” có nhân cách cao thượng, nên trước những mục nát của chế độ đương triều, ông chỉ làm quan có một năm rồi lui về sống ẩn dật, viết sách và phụng dưỡng mẹ già.

+ Dù vậy, qua các sáng tác, ông vẫn tỏ ra là một người luôn đau đáu đến vận mệnh của xã tắc, sơn hà.

2. Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

a. Thể loại – nguồn gốc xuất xứ

– Truyện truyền kì:

+ Là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Quốc và thịnh hành từ thời  Đường.

+ Truyện truyền kì thường mô phỏng những cốt truyện từ dân gian hoặc dã sử. Sau đó được tác giả sắp xếp lại tình tiết, bồi đắp thêm cho đời sống các nhân vật, đặc biệt là xen kẽ các yếu tố kì ảo,

– Truyện “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ:

+ Truyện ra đời vào khoảng đầu thế kỉ XVI, thời kì xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong: những mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ.

+ “Truyền kì mạn lục” gồm 20 truyện, ghi chép lại những câu chuyện được lưu truyền tản mạn trong dân gian và thường có yếu tố  kì ảo; đề tài phong phú.

+ Truyện mang đậm giá trị nhân văn và được đánh giá là áng “thiên cổ tùy bút” (tức áng văn hay ngàn đời).

Chuyện người con gái Nam Xương:

+ Là thiên truyện thứ 16 trong số 20 thiên truyện của “Truyền kì mạn lục”.

+ Truyện viết bằng chữ Hán, có nguồn gốc từ truyện dân gian “Vợ chàng Trương”, sau đó được Nguyễn Dữ tái tạo, sắp xếp lại một số tình tiết và thêm vào các yếu tố kì ảo.

+ Chuyện người con gái Nam Xương được kể theo ngôi thứ 3.

b. Phương thức biểu đạt: Tự sự có kết hợp yếu tố biểu cảm.

c. Tóm tắt tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

Nàng Vũ Nương, người phụ nữ đẹp người, đẹp nết được Trương Sinh – một người ít học lại có tính đa nghi, cưới về làm vợ. Gia đình đang yên ấm, hạnh phúc thì chàng Trương phải rời nhà đi lính. Ở nhà, Vũ Nương sinh con trai, đặt tên là Đản. Nàng hay đùa với con bằng cách chỉ cái bóng của mình lên vách và nói là cha Đản. Mẹ Trương Sinh vì thương nhớ con mà sinh bệnh, nàng hết lòng chăm sóc, phụng dưỡng, song ít lâu sau bà qua đời.

Khi Trương Sinh trở về, nghe theo lời con trẻ nghi ngờ vợ thất tiết. Vũ Nương một mực kêu oan, song Trương Sinh không nghe mà đánh mắng, đuổi vợ đi. Vũ Nương không tự minh oan được bèn trẫm mình xuống sông tự vẫn. Một đêm thấy bóng cha trên tường, bé Đản gọi cha. Bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ nhưng đã muộn.

Vũ Nương không chết, nàng được Linh Phi cứu giúp. Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang dưới thủy cung – người cùng làng bị chết đuối, cũng được Linh Phi cứu. Khi Phan Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc thoa và nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh nghe theo, lập đàn giải oan cho nàng ở bên sông ấy. Vũ Nương trở về ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ vài lời tạ từ rồi biến mất.

II. Trọng tâm kiến thức

1. Nhân vật Vũ Nương

– Ngay từ đầu thiên truyện, Vũ Nương được giới thiệu là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, “tính tình thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”.

– Trong xã hội phong kiến, một người phụ nữ đẹp phải hội tụ đủ các yếu tố: “tam tòng, tứ đức”, “công, dung, ngôn, hạnh”. Trong đó, dung chính là vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ. Và vì cảm kích trước “tư dung” – vẻ đẹp bên ngoài của nàng mà Trương Sinh đã xin mẹ “đem 100 lạng vàng cưới về”. Chi tiết này đã tô đậm vẻ đẹp nhan sắc và phẩm chất của nàng.

=> Nhân vật Vũ Nương đã được tác giả khắc họa với những nét chân dung về người phụ nữ mang vẻ đẹp toàn vẹn nhất trong xã hội phong kiến. Song để có thể hiểu thật chi tiết về Vũ Nương, chúng ta cần phải đặt nhân vật trong những hoàn cảnh và mối quan hệ khác nhau:

a. Trong mối quan hệ với chồng, nàng là người vợ thủy chung, yêu thương chồng hết mực.

* Trong cuộc sống vợ chồng bình thường

– Nàng hiểu chồngcó tính đa nghi”, “đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Vũ Nương khéo léo cư xử đúng mực, nhường nhịn, giữ gìn khuôn phép nên không để lúc nào vợ chồng phải thất hòa.

=> Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh, nết na, khôn khéo, hiểu chồng. Đồng thời nó đã hé lộ sự mâu thuẫn trong tính cách giữa hai người và mang đầy tính dự báo.

* Khi tiễn chồng đi lính

– Nàng dặn dò chồng với những lời thiết tha, tình nghĩa:

+ Nàng đặt hạnh phúc gia đình lên trên tất cả mà xem thường những thứ vinh hoa phù phiếm: “Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”.

+ Nàng như thấy trước và cảm thông cho những nỗi vất vả, gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng ở nơi chiến trận: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao”.

+ Nàng bộc lộ sự khắc khoải, xa nhớ của mình: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoan, lại thổn thức tâm tình”.

=> Đó là những lời nói ân tình, đằm thắm, đầy ắp những yêu thương. Qua đó, chúng ta thấy Vũ Nương thực sự là một người vợ dịu dàng, hết mực thương chồng, thương con và thật đáng trân trọng.

* Khi xa chồng

– Vũ Nương chứng minh được, nàng là người vợ thủy chung, yêu thương chồng hết mực. Nỗi nhớ chồng cứ đi cùng năm tháng: “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi”, nàng lại “thổn thức tâm tình, buồn thương da diết”.

– Nàng mơ về một tương lai gần sẽ lại bên chồng như hình với bóng: Dỗ con, nàng chỉ cái bóng của mình trên vách mà rằng đó là cha Đản.

– Tiết hạnh ấy được khẳng định trong câu nói thanh minh, phân trần sau này của nàng với chồng: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.

=> Qua tâm trạng bâng khuâng, nhớ thương, đau buồn của Vũ Nương, Nguyễn Dữ vừa cảm thông vừa ca ngợi tấm lòng son sắt, thủy chung của nàng. Và nỗi nhớ ấy, tâm trạng ấy cũng chính là tâm trạng chung của những người phụ nữ trong mọi thời loạn lạc, chiến tranh.

* Khi bị chồng nghi oan

– Nàng đã hết sức phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng trinh bạch của mình:

+ Trước hết, nàng nhắc đến thân phận của mình để có được tình nghĩa vợ chồng: “Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu”.

+ Tiếp theo, nàng khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng, vẹn nguyên chờ chồng: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”.

+ Cuối cùng, nàng cầu xin chồng đừng nghi oan: “Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”.

=> Nàng đã hết lời tha thiết, hết lòng nhún nhường để cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị tan vỡ. Qua những lời nói tha thiết đó, nó còn cho thấy thái độ trân trọng chồng và gia đình nhà chồng của nàng.

– Không còn hi vọng, nàng nói lên một cách đau đớn và thất vọng:

+ Hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia, nghi thất” là niềm khao khát và tôn thờ cả đời giờ đã tan vỡ.

+ Tình yêu giờ đây của nàng được cụ thể bằng những hình ảnh ước lệ: “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió”.

+ Đến nỗi đau chờ chồng đến hóa đá của “cổ nhân” nàng cũng không có được: “đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”.

=> Vậy là tình yêu, hạnh phúc gia đình vốn là cở sở tồn tại của người vợ trẻ giờ đã không ý nghĩa.

– Cuối cùng, bị cự tuyệt quyền yêu, quyền hạnh phúc cũng đồng nghĩa với việc bị cự tuyệt quyền tồn tại của nàng:

+ Vũ Nương mượn bến Hoàng Giang để dãi tỏ tấm lòng trong trắng mà minh oan cho mình: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạc gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho tôm cá, trên xin làm cơm cho diều quạ”.

+ Nàng tìm đến cái chết sau mọi sự cố gắng không thành.

=> Hành động trẫm mình tự vẫn của nàng là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo vệ phẩm giá. Đối với người con gái đức hạnh và giàu đức hy sinh ấy, phẩm giá còn cao hơn sự sống.

* Những năm tháng sống dưới thủy cung

– Sống ở chốn làn mây, cung nước sung sướng nhưng nàng vẫn một lòng hướng về chồng con, quê hương và khao khát được đoàn tụ: Nàng nhận ra Phan Lang người cùng làng. Nghe ông kể về chuyện gia đình mà ứa nước mắt xót thương.

Nàng khao khát được trả lại phẩm giá, danh dự: Gửi chiếc thoa vàng, nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho mình.

– Nàng là người trọng tình, trọng nghĩa: Dù rất thương nhớ chồng con, khao khát được đoàn tụ song vẫn quyết giữ lời hứa sống chết bên Linh Phi.

=> Với vai trò là một người vợ Vũ Nương là một người phụ nữ chung thủy, mẫu mực, lí tưởng trong xã hội phong kiến. Trong trái tim người phụ nữ ấy chỉ có tình yêu, lòng bao dung và sự vị tha.

b. Trong mối quan hệ với mẹ chồng, nàng là một người con dâu hiếu thảo.

– Vũ Nương đã thay Trương Sinh làm tròn bổn phận người con, người trụ cột đối với gia đình nhà chồng:

+ Nàng hết lòng chăm sóc mẹ chồng khi bà già yếu, ốm đau. “Hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”.

+ Mẹ chồng mất, nàng hết lòng thương xót, phàm việc ma chay tế lễ thì lo liệu chu đáo như đối với cha mẹ đẻ mình.

+ Lời trăng trối của bà mẹ chồng trước khi mất đã khẳng định tấm lòng hiếu thảo, tình cảm chân thành và công lao to lớn của Vũ Nương: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

=> “Đói lòng ăn khế ăn sung/ Trông thấy mẹ chồng thì nuốt chẳng trôi” là một trong những câu ca dao nói về mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu trong xã hội phong kiến xưa. Song lời cảm tạ, động viên của bà mẹ đã cho thấy Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo. Đó là một sự đánh giá xác đáng và khách quan nhất.

c. Trong mối quan hệ với con, nàng là một người mẹ yêu thương con hết mực.

– Thiếu vắng chồng, nàng vẫn một mình sinh con và nuôi dạy con khôn lớn.

– Không chỉ trong vai trò là một người mẹ, nàng còn đóng vai trò của một người cha: Hết lòng yêu thương con, không để con phải thiếu thốn tình cảm.

– Nàng còn là một người mẹ tâm lí, không chỉ chăm lo cho con về mặt vật chất, mà con cả về mặt tinh thần: Bé Đản sinh ra chưa biết mặt cha, lo con thiếu thốn tình cảm của cha nên chỉ vào cái bóng của mình trên vách mà bảo đó là cha Đản. Hơn hết, nàng sớm định hình cho con về một mái ấm, một gia đình hoàn chỉnh.

=> Vũ Nương đã không chỉ hoàn thành tốt trách nhiệm của một người vợ, người con, người mẹ, người cha mà còn là một người trụ cột của gia đình. Nàng xứng đáng được hưởng những gì hạnh phúc, tuyệt vời nhất. Thế nhưng, trớ trêu thay, hạnh phúc, sự ngọt ngào đã không mỉm cười với nàng.

2. Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương

a. Nguyên nhân trực tiếp

– Chiếc bóng trên vách khiến bé Đản ngộ nhận đó là cha mình. Khi người cha thật trở về thì không chịu nhận mà ngây thơ, vô tình đưa ra những thông tin khiến mẹ bị oan. Những lời nói thật của con đã làm thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông vốn luôn ấp ủ trong lòng Trương Sinh.

b. Nguyên nhân gián tiếp

– Do cuộc hôn nhân không bình đẳng và do tính hay ghen, gia trưởng của Trương Sinh: Vũ Nương là “con kẻ khó” được Trương Sinh đem trăm lạng vàng để cưới về. Sự đối lập giàu nghèo cộng với tính cách “đa nghi” của Trương Sinh đã sản sinh ra sự hồ đồ, độc đoán, gia trưởng để thô bạo với Vũ Nương. Rõ ràng, đối với vợ Trương Sinh đã thiếu cả lòng tin và tình thương.

– Do lễ giáo phong kiến hà khắc: Chế độ nam quyền đã dung túng, cổ vũ cho thói độc đoán, gia trưởng của người đàn ông, cho phép họ phá tan hạnh phúc mong manh của người phụ nữ.

– Vũ Nương không chỉ là nạn nhân của chế độ nam quyền mà nàng còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến: Trương Sinh phải đi lính, thời gian xa cách đã làm ngọn lửa ghen tuông sẵn âm ỉ nay lại được thổi bùng lên, phá tan hạnh phúc gia đình.

3. Những chi tiết đặc sắc

a. Những chi tiết kì ảo cuối truyện

– Chi tiết kì ảo thứ nhất: Phan Lang chiêm bao thấy người con gái áo xanh đến xin tha mạng, sáng hôm sau ông được người phường chài đem biếu con rùa mai xanh thì liền thả.

– Chi tiết kì ảo thứ hai: Phan Lang chết đuối vì có công nên được Linh Phi cứu sống, gặp Vũ Nương, rồi được rẽ nước đưa về dương thế.

– Chi tiết kì ảo thứ ba: Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang, Vũ Nương ẩn hiện giữa dòng nói vọng vài lời từ biệt rồi biến mất.

=> Chi tiết kì ảo là sự sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ trong tác phẩm, thể hiện tính chất truyền kì của truyện và tạo nên những giá trị thẩm mĩ mới mà truyện cổ tích “Vợ chàng Trương” không có.

b. Ý nghĩa của các chi tiết kì ảo cuối truyện

– Làm nên đặc trưng của thể loại truyền  kì.

– Yếu tố thực đan xen yếu tố kì ảo làm cho câu chuyện thêm li kì, hấp dẫn và kích thích trí tưởng tượng của người đọc.

– Làm tăng thêm giá trị hiện thực và ý nghĩa nhân văn cho tác phẩm.

– Tạo nên một kết thúc có hậu ở một ý nghĩa nào đó:

+ Một mặt, thể hiện ước mơ của con người về sự bất tử, sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp. Thể hiện nỗi khát khao cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho những người lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ.

+ Mặt khác, những chi tiết ấy có tác dụng hoàn chỉnh thêm nét đẹp trong tính cách của Vũ Nương: Dù ở một thế giới khác, nhưng nàng vẫn tha thiết hướng về gia đình, quê hương và khát khao được minh oan.

– Tuy nhiên, những chi tiết kì ảo đó chỉ làm giảm chứ không làm mất đi tính bi kịch của thiên truyện: Vũ Nương hiện về rực rỡ, uy nghi nhưng chỉ là một sự hiển linh trong thoáng chốc. Tất cả chỉ là ảo ảnh “loang loáng mờ nhạt” trên sông rồi dần biến đi mất, tức là vẫn còn xa cách, vẫn chia lìa âm dương đôi ngả. Vũ Nương không thể trở về, cái lí mà nàng đưa ra là vì ân đức của Linh Phi nhưng chủ yếu là vì xã hội ấy đâu thuộc về những người tốt như nàng, đặc biệt là những người phụ nữ. Chi tiết Phan Lang được rẽ nước trở về nhân gian còn Vũ Nương thì không thể là một minh chứng đanh thép cho điều đó.

4. Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

a. Giá trị hiện thực Chuyện người con gái Nam Xương

– Tác phẩm đã phản ánh một cách chân thực số phận bất hạnh của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến thông qua hình tượng nhân vật Vũ Nương.

– Lên án hiện thực xã hội phong kiến với đầy rẫy những bất công, vô lí. Xã hội ấy đã dung túng chế độ nam quyền hà khắc, trọng nam khinh nữ chà đạp lên số phận người phụ nữ. Một xã hội mà người phụ nữ không thể đứng lên để bảo vệ giá trị nhân phẩm của mình ngoài cái chết.

– Phản ánh xã hội phong kiến đầy mâu thuẫn đã gây ra những cuộc chiến tranh phi nghĩa kéo dài liên miên, làm cho đời sống người dân càng rơi vào bi kịch, bế tắc.

b. Giá trị nhân đạo Chuyện người con gái Nam Xương

– Khám phá, trân trọng những vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ thông qua hình tượng nhân vật Vũ Nương.

– Thể hiện niềm tin vào một tương lai tốt đẹp: Đề cao giáo trị nhân văn “ở hiền thì gặp lành” và gửi gắm những ước mơ tốt đẹp ngàn đời của nhân dân.

– Thể hiện sự thấu hiểu, xót xa và niềm cảm thương sâu sắc với số phận đầy ngang trái, thiệt thòi, bất hạnh của Vũ Nương.

Lên tiếng tố cáo chế độ phong kiến, chế độ nam quyền đã chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc của con người. Đó cũng chính là giá trị nhân văn muôn thuở của loài người.

III. Tổng kết

1. Nội dung

Chuyện người con gái Nam Xương đã thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến. Qua đó khẳng định những vẻ đẹp phẩm chất quý báu của họ.

– Tác phẩm còn mang một thông điệp vượt thời gian: Tất cả mọi người đều có quyền sống và quyền hạnh phúc. Đặc biệt là những người phụ nữ, họ có quyền bình đẳng để phát huy tài năng và phẩm chất của mình. Đó cũng chính là những biểu hiện của một xã hội hiện đại, văn minh.

2. Nghệ thuật

Chuyện người con gái Nam Xương xây dựng tình huống truyện độc đáo, xoay quanh sự ngộ nhận, hiểu lầm lời nói của bé Đản. Chi tiết cái bóng trở thành điểm mấu chốt của tình huống khiến cốt truyện được thắt nút, mở nút, thay đổi sau khi nó xuất hiện.

– Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc: Dẫn dắt tình huống hợp lí; xây dựng lời thoại của nhân vật đan xen với lời kể của tác giả. Đặc biệt là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và kì ảo.

– Có sự kết hợp hài hòa các phương thức biểu đạt: Tự sự, biểu cảm.

Làm chủ kiến thức ngữ văn 9 – Luyện thi vào 10

Tác giả: Phạm Trung Tình