Văn bản: Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô Gia Văn Phái

120

I. Những nét chính về tác giả – tác phẩm

1. Tác giả

– Ngô gia văn phái: Một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Thanh Oai (tỉnh Hà Tây cũ). Trong đó có hai tác giả chính là:

+ Ngô Thì Chí (1753 – 1788) làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống.

+ Ngô Thì Du (1772 – 1840) làm quan dưới triều Nguyễn.

– Họ là những nhà nho mang nặng tư tưởng trung quân, ái quốc. Ngô Thì Chí từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ hai. Ông cũng chính là người dâng “Trung hưng sách” bàn kế để khôi phục nhà Lê và chống lại nhà Tây Sơn.

– Họ là những cây bút trung thực và có tư tưởng tiến bộ. Họ đã phản ánh được một cách chân thực, sống động những sự kiện lịch sử dân tộc trong khoảng ba mươi năm cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX.

2. Tác phẩm

a. Thể loại

Hoàng Lê nhất thống chí được viết theo thể chí – một thể văn ghi chép sự vật, sự việc. Một thể loại văn vừa có tính văn học, vừa có tính lịch sử lại vừa mang tính triết lí (hiện tượng văn – sử – triết bất phân).

– Nếu xét về tính chân thực, tác phẩm có thể được xếp loại kí sự lịch sử. Song, nếu xét về phương diện nghệ thuật: kết cấu, giọng điệu trần thuật… thì tác phẩm thuộc vào loại tiểu thuyết lịch sử. Tác phẩm được viết theo kiểu chương hồi, trong đó gồm 17 hồi.

b. Hoàn cảnh sáng tác

Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm được viết bằng chữ Hán, ghi chép về sự thống nhất đất nước của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh.

– Tác phẩm được viết ở nhiều thời điểm nối tiếp nhau, từ giai đoạn cuối triều Lê đến đầu triều Nguyễn và do một số tác giả kế tục nhau viết.

Hoàng Lê nhất thống chí được viết bởi hai tác giả chính: Ngô Thì Chí viết bảy hồi đầu, Ngô Thì Du viết bảy hồi tiếp sau, còn ba hồi cuối có thể do một người khác viết vào khoảng cuối hoặc đầu triều Nguyễn.

c. Vị trí đoạn trích

– Đoạn trích trong sách giáo khoa thuộc hồi thứ mười bốn của tác phẩm, ca ngợi chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung cùng nghĩa quân Tây Sơn. Đồng thời, miêu tả sự thất bại thảm hại của quân tướng nhà Thanh cùng số phận của bè lũ vua tôi hại nước, hại dân Lê Chiêu Thống.

d. Tóm tắt văn bản Hồi 14 – Hoàng Lê nhất thống chí

Tin quân Thanh kéo vào Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về núi Tam Điệp. Ngày 25 tháng Chạp năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua (hiệu là Quang Trung) ở Phú Xuân, tự mình đốc suất lại binh để chuẩn bị tiến quân ra Bắc diệt Thanh.

Dọc đường vua Quang Trung cho tuyển thêm lính, mở cuộc duyệt binh lớn và chia quân thành các ngả để tiến ra Bắc. Ra chỉ dụ tướng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng Chạp, hẹn đến ngày mồng 7 Tết thắng lợi sẽ mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long.

Đội quân của Quang Trung đánh đến đâu thắng đến đó khiến quân Thanh đại bại. Rạng sáng ngày mồng 3 Tết, nghĩa quân đã tiến vào Thăng Long, bí mật bao vây đồn Hạ Hồi, dùng mưu để quân giặc đầu hàng và hạ đồn một cách dễ dàng.

Ngày mồng 5 Tết, nghĩa quân tiến vào công đồn Ngọc Hồi. Quân giặc chống trả quyết liệt, cuối cùng phải chịu đầu hàng, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến trốn chạy theo.

e. Bố cục: Ba phần

– Phần một: Từ đầu đến “năm Mậu thân 1788”: Tin quân Thanh đã chiếm thành Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, thân chinh cầm quân dẹp giặc.

– Phần hai: Tiế theo đến “kéo vào thành”: Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn.

– Phần ba: Còn lại: Sự đại bại của quân Thanh và số phận thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

II. Trọng tâm kiến thức

1. Hình tượng người anh hùng Quang Trung

a. Nhà lãnh đạo quyết đoán, mạnh mẽ và bản lĩnh phi thường

– Trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn hành động một cách mạnh mẽ, nhanh gọn và rất quyết đoán: Nghe tin giặc chiếm thành Thăng Long, không hề nao núng mà “định thân chinh cầm quân đi ngay”.

– Chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được rất nhiều việc lớn:

+ Tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung để yên lòng dân rồi thân chinh cầm quân ra Bắc.

+ Trên đường tiến quân ra Bắc, tranh thủ gặp Nguyễn Thiếp để hỏi về kế sách, đặc biệt là thu hút sự ủng hộ của tầng lớp sĩ phu.

+ Tuyển mộ được hơn một vạn tinh binh và mở cuộc duyệt binh lớn.

+ Ra phủ dụ tướng sĩ: Vạch trần âm mưu xâm lược của nhà Thanh, cho thấy bộ mặt tàn bạo của kẻ thù; giữ nghiêm kỉ luật, khích lệ tinh thần chiến đấu của binh lính.

=> Tính cách mạnh mẽ, quyết đoán, đầy bản lĩnh là đặc điểm của những bậc quân vương tài chí. Và với tính cách ấy, Nguyễn Huệ xứng đáng được nhân dân tôn thờ và gửi gắm niềm tin để trở thành linh hồn của nghĩa quân Tây Sơn.

b. Bậc minh vương có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén

– Là một bậc quân vương, thống lĩnh cả vạn tinh binh, vua Quang Trung đã tỏ ra được là một người sáng suốt, nhạy bén trong việc nhận định tình hình thế cuộc và tương quan lực lượng giữa ta và địch. Điều đó được thể hiện trong lời phủ dụ với quân lính khi ở Nghệ An:

+ Vua Quang Trung đã khẳng định chủ quyền dân tộc: “Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng… Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta”.

+ Tiếp đó, ông lên án hành động ngang ngược, phi nghĩa của giặc trái với đạo trời của quân Thanh: “Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải”.

+ Để khích lệ tinh thần tướng sĩ dưới quyền, ông đã nhắc lại truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của các bậc minh vương trong lịch sử: “Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ…

+ Từ những gương trên, ông kêu gọi quân lính hãy “đồng tâm hiệp lực”.

+ Cuối cùng, ông ra kỉ luật nghiêm khắc theo phép nhà binh: “Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.

=> Lời phủ dụ đã như một bài hịch ngắn gọn mà súc tích, sâu sắc để kích thích lòng yêu nước, truyền thống anh hùng dân tộc.

– Đó còn là một bậc minh quân sáng suốt, nhạy bén trong việc dùng người và xét đoán bề tôi:

+ Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Lân và Sở, ta thấy: ông rất hiểu tình thế buộc phải rút quân để bảo toàn lực lượng của hai vị tướng này. Đúng ra thì “quân thua chém tướng”. Nhưng ông hiểu lòng họ, sức ít không thể địch nổi quân hùng tướng hổ nhà Thanh.

+ Đối với Ngô Thì Nhậm, ông hiểu tường tận năng lực, khả năng “đa mưu túc trí” của vị quân sĩ này. Việc Lân và Sở rút chạy, Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan.  Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao sau này.

=> Ông là một bậc minh quân, rất hiểu tướng sĩ, khen chê đúng người đúng việc và ân uy rạch ròi.

c. Bậc quân vương có ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng

– Quang Trung tự tin vào tài cầm quân của mình, tin vào các tướng lĩnh và tin ở chính nghĩa của dân tộc. Bởi vậy, mới khởi binh, ông đã chắc thắng và dự kiến cả ngày chiến thắng: “Phương lược tiến đánh đã tính sẵn. Chẳng qua mười ngày có thể đuổi được người Thanh…”

– Đang lo việc đánh giặc, Quang Trung đã tính sẵn cả kế hoạch sau chiến thắng (kế hoạch cho mười năm sau), tìm cách ngoại giao với giặc để có thể dẹp “việc binh đao”, “cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng”,…

=> Chính tinh thần, ý chí quyết thắng hừng hực của vua Quang Trung đã lan tỏa đến từng quân sĩ để kích thích ý chí quật cường trong họ.

d. Bậc kì tài về quân sự – có tài thao lược hơn người

– Vua Quang Trung thân chinh cầm quân, đốc suất quân sĩ, tổ chức chiến dịch làm nên cuộc hành quân thần tốc nổi tiếng trong lịch sử. Cuộc hành quân thần tốc đến nay vẫn còn khiến chúng ta khâm phục:

+ Ngày 25 tháng Chạp bắt đầu xuất quân từ Phú Xuân (Huế).

+ Vượt khoảng 350 km đường đèo, núi, đến ngày 29 đã tới Nghệ An.

+ Tổ chức tuyển quân, duyệt binh chỉ trong một ngày.

+ Ngay hôm sau, vượt khoảng 150 km, tiến ra Tam Điệp.

+ Đêm 30 tháng Chạp “lập tức lên đường” tiến thẳng Thăng Long. Vừa hành quân vừa đánh giặc và giữ bí mật đến bất ngờ.

– Hành quân xa liên tục và gấp gáp, lại là đi bộ hẳn sẽ mệt mỏi, rã rời, song quân đội của Quang Trung vẫn chỉnh tề. Mặc dù quân đội đó không phải toàn lính thiện chiến nhưng dưới sự chỉ huy tài tình của vua Quang Trung, tất cả đã trở thành quân đội dũng mãnh, “tướng ở trên trời rơi xuống, quân chui ở dưới đất lên”, đánh đâu thắng đó.

– Ông dùng chiến thuật một cách linh hoạt, ít hao tổn binh lực:

+ Ở trận Hạ Hồi, bằng chiến thuật nghi binh đã giúp nghĩa quân chiến thắng vẻ vang mà không tốn một hòm tên, mũi đạn.

+ Ở trận Ngọc Hồi, cho quân làm những tấm ván ghép, bên ngoài phủ rơm dấp nước nên binh lính tiến sát đồn mà không bị đạn hỏa công.

=> Quang Trung là sức mạnh, là nội lực của nghĩa quân Tây Sơn, đại diện cho vẻ đẹp của một dân tộc anh hùng.

e. Một vị anh hùng lẫm liệt trong chiến đấu

– Vua Quang Trung là một tổng chỉ huy thực sự của chiến dịch. Ông hoạch định đường lối chiến lược, chiến thuật, tự mình thống lĩnh một mũi tiên phong, xông pha nơi chiến trận,…

– Dưới sự lãnh đạo của Quang Trung, nghĩa quân Tây Sơn đã chiến thắng áp đảo quân thù.

– Hình ảnh nhà vua lẫm liệt trên lưng voi, trực tiếp chỉ huy trận đánh, dũng mãnh, tài ba được khắc họa nổi bật và là linh hồn của cuộc tiến công vĩ đại của dân tộc.

=> Hình ảnh vua anh hùng Quang Trung xông pha nơi chiến trận với tư thế dũng mãnh, “tả đột hữu xông”, oai phong lẫm liệt xứng đáng là biểu tượng đẹp nhất về người anh hùng trong văn học trung đại.

2. Sự đại bại của quân Thanh và số phận thảm hại của bọn vua tôi phản dân hại nước

a. Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh

– Đối lập với hình ảnh của nghĩa quân Tây Sơn:

+ Tướng Tôn Sĩ Nghị: “sợ mất mật, ngựa không còn kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng Bắc mà chạy”; Sầm Nghi Đống thì thắt cổ tự tử.

+ Quân “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy  nhau rơi xuống mà chết rất nhiều… đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa”.

– Cả một đội binh hùng tướng mạnh mấy chục vạn người diễu võ dương oai giờ đây chỉ còn biết tháo chạy “đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.

– Nguyên nhân của sự thất bại:

+ Tướng lĩnh thì kiêu căng, chủ quan, bỏ ngoài tai những lời cảnh báo của vua tôi Lê Chiêu Thống, chỉ lo ăn chơi, hưởng lạc trên chiến thắng.

+ Do sự bất tài, tham sống sợ chết, nên chưa đánh đã chạy.

+ Lính tráng thì ô hợp, buông lỏng kỷ cương: Rời doanh trại để đi kiếm củi và buôn bán ở chợ.

=> Miêu tả sự đại bại của quân xâm lược nhà Thanh với âm điệu nhanh, mạnh, gấp gáp đã gợi sự đại bại liên tiếp và nhanh chóng của kẻ thù, đồng thời gợi tâm trạng hả hê, sung sướng của người cầm bút.

b. Số phận thảm bại của bọn vua tôi phản nước, hại dân

– Lê Chiêu Thống và bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà mù quáng cõng rắn cắn gà nhà” và đặt vận mệnh của dân tộc vào tay kẻ thù xâm lược.

– Họ không còn tư cách của bậc quân vương mà phải chịu số phận nhục nhã của kẻ cầu cạnh, van xin và kết cục chịu chung số phận thảm hại của kẻ vong quốc: Lê Chiêu Thống cũng vội vã cùng kẻ thân tín chạy bán sống, bán chết, “luôn mấy ngày không ăn, ai nấy đều mệt lử”, chỉ biết “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”.

=> Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi 14 đã miêu tả sự thảm bại của bọn vua tôi phản nước, hại dân Lê Chiêu Thống bằng một giọng văn chậm chạp, có khi chững lại khi miêu tả những giọt nước mắt để gợi thái độ ngậm ngùi của người cầm bút.

III. Tổng kết

1. Nội dung

Hoàng Lê nhất thống chí – hồi mười bốn – “Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận, bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài” là bức tranh sinh động về người anh hùng Nguyễn Huệ  -vị vua văn võ song toàn. Đồng thời, cũng thấy được tình cảnh thất bại ê chề, khốn đốn, nhục nhã của bọn vua quan bán nước Lê Chiêu Thống.

2. Nghệ thuật

Hoàng Lê nhất thống chí lựa chọn trình tự kể theo diễn biến của các sự kiện lịch sử.

– Khắc họa nhân vật lịch sử với ngôn ngữ kể, tả chân thực, sinh động.

– Giọng điệu trần thuật thể hiện thái độ của tác giả với vương triều Lê, với chiến thắng của nhân dân, dân tộc với bọn cướp nước.

Làm chủ kiến thức ngữ văn 9 – Luyện thi vào 10

Tác giả: Phạm Trung Tình