Tìm hiểu văn bản: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

26

I. Tìm hiểu chung

1. Xuất xứ

– Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về Âu Lạc và An Dương Vương của kho tàng văn học dân gian phong phú của dân tộc ta. Nó là kết quả của sự đóng góp của nhiều thế hệ, nhiều tầng lớp người Việt Nam, từ người nông dân thời cổ tới các trí thức tân học đầu thế kỉ XX đến nay, người thì hình dung ra tình huống đầu tiên, người góp thêm sự việc, chi tiết, người chỉnh lí và biên soạn lại.

– Cũng giống như các tác phẩm văn học dân gian khác, truyền thuyết này có nhiều dị bản. Tình huống dị bản đặc sắc do người xã Cổ Loa (nơi có đền thờ An Dương Vương và dấu tích Loa Thành) tạo dựng, đấy là Trọng Thủy chết do chính Mị Châu hiện từ Giếng Ngọc lên vít cổ dìm xuống nước. Hẳn là do thường đến thắp hương khấn vái ở am Mị Châu (gần đền Cổ Loa), nhìn thấy nàng bị biến thành tảng đá hình người cụt đầu, thương xót, cảm thông mà căm ghét kẻ hại nước, hại vợ nên nảy sinh ra tình huống này.

– Bản kể được trích và chọn đưa vào SGK Ngữ văn 10 là từ Truyện rùa vàng trong Lĩnh Nam chính quái (Lựa chọn những chuyện quái dị ở Lĩnh Nam) do Vũ Quỳnh và Kiều Phú – hai nhà nho ở thế kỉ XV – sưu tầm và chỉnh lí, nay được Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San dịch, NXB Văn học in năm 2001. Tên bài do người biên soạn SGK đặt.

2. Thể loại

– Truyền thuyết là một thể loại truyện dân gian, có chức năng phản ánh và lí giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kì, bộc tộc, dân tộc, quốc gia hay địa phương.

– Đề tài lịch sử là nội dung của truyền thuyết nhưng truyền thuyết không phải là lịch sử mà là nghệ thuật. Truyền thuyết không phản ánh chính xác các sự kiện và nhân vật lịch sử mà quan tâm hơn đến sự lay động tư duy và tình cảm của người nghe sau các sự kiện và nhân vật được phản ánh.

– Các chủ đề về tình yêu, tình cảm gia đình đi vào truyền thuyết đều bị chi phối bởi cảm quan lịch sử. Bởi vậy, truyền thuyết thường gắn với lễ hội và phong tục thờ cúng của nhân dân ta.

– Ở Việt Nam, truyền thuyết được hình thành từ thời Hùng Vương dựng nước và phát triển liên tục, mạnh mẽ qua các thời kì lịch sử của dân tộc, đặc biệt là thời kì chống ngoại xâm. So với những truyền thuyết về thời kì đầu dựng nước, những truyền thuyết về sau ít yếu tố hoang đường hơn và theo sát lịch sử hơn. Sự tham gia của các yếu tố hoang tưởng kì ảo khiến cho câu chuyện hấp dẫn, sinh động hơn, góp phần lí giải lịch sử theo mong muốn của dân gian.

3. Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

An Dương Vương xây thành Cổ Loa, xây mãi vẫn đổ, nhờ có Rùa Vàng giúp mới xây xong. Rùa cho nhà vua lẫy nỏ, nhờ đó mà đánh bại quân xâm lược Triệu Đà. Triệu Đà cầu hoà, cho con trai Trọng Thuỷ sang kết thân với Mị Châu, con gái An Dương Vương và ở rể trong thành Cổ Loa. Trọng Thuỷ ăn cắp lẫy nỏ, Triệu Đà liền cử quân sang tái xâm lược Âu Lạc. An Dương Vương thua trận, đem theo Mị Châu chạy trốn. Đến bờ biển, Rùa Vàng hiện lên kết tội Mị Châu, vua chém đầu con gái rồi đi xuống biển. Trọng Thuỷ tiếc Mị Châu, tự vẫn ở giếng trong thành. Mị Châu chết, máu thành ngọc trai, xác thành ngọc thạch, ngọc đem rửa nước giếng trong thành thì sáng hơn.

II. Trọng tâm kiến thức

1. Nhân vật An Dương Vương

a. Trong quá trình giữ nước

– An Dương Vương trong những năm đầu đã làm được những việc trọng đại, thu được những thành công to lớn: chuyển đô từ miền núi về đồng bằng, xây được thành cao hào sâu, chế được nỏ tốt, chiến thắng Triệu Đà, bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước.

– Nguyên nhân thành công:

+ Do An Dương Vương kiên trì, quyết tâm, không nản chí trước khó khăn, thất bại tạm thời .

+ Do An Dương Vương thành tâm cầu tài: lập đàn cầu.

+ Do An Dương Vương được sự trợ giúp của cả người và thần linh (cụ già và Rùa vàng ) => sự ủng hộ của nhân dân.

+ Vua có tinh thần cảnh giác cao, có sự lo tính, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với nguy cơ xâm lược của kẻ thù (xây thành, chế nỏ).

=> Nhận xét: An Dương Vương là vị vua anh hùng, thủ lĩnh sáng suốt của người Âu Lạc, có trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cao độ.

– Thái độ của nhân dân: tôn vinh, ngưỡng mộ An Dương Vương. Hình ảnh Rùa Vàng và nỏ thần mà nhân dân sáng tạo ra chính là sự kỳ ảo hoá, thần thánh hoá, bất tử hoá sự nghiệp dựng, giữ nước chính nghĩa, hợp lòng dân của An Dương Vương. Nỏ thần là sự kỳ ảo hoá vũ khí tinh xảo của người Việt xưa.

b. Trong quá trình mất nước

– Nguyên nhân mất nước :

+ Do An Dương Vương lơ là cảnh giác, không nhận ra dã tâm nham hiểm của Triệu Đà.

+ Vua liên tiếp mắc sai lầm: nhận lời cầu thân của Triệu Đà, cho phép Trọng Thuỷ ở rể trong thành mà không chút đề phòng, dạy dỗ con gái không nghiêm, lơ là trong việc phòng thủ bảo vệ nước, chủ quan khinh địch, sớm có mong muốn hưởng nhàn.

=> Nhận xét: An Dương Vương đã tự đánh mất mình, tự mãn, thiếu sáng suốt, cảnh giác, không hiểu bản chất nham hiểm của kẻ thù nên chuốc thất bại thảm hại. Ông thua là thua ở mưu kế hiểm độc, do bị phá ngầm bên trong chứ không phải thua do kém binh kém tướng.

– Kết cục của An Dương Vương: Nhà vua rơi vào bi kịch nước mất nhà tan. Ông chỉ tỉnh ngộ khi thành đã mất, lâm vào bước đường cùng, phía sau lưng là giặc, phía trước mặt là biển khơi mênh mông, không lối thoát; tự tay ông phải chém đầu con gái yêu và kết thúc cuộc đời mình. Đó là hành động trừng phạt nghiêm khắc, đích đáng, đau đớn, đầy bi kịch.

– Thái độ của nhân dân với An Dương Vương:

+ Một mặt nêu ra bài học đắt giá cho người thủ lĩnh mất cảnh giác, để mất nước một cách bi thảm. Đó là sự trừng phạt nghiêm khắc của lịch sử.

+ Mặt khác nhân dân vẫn kính trọng những việc ông đã làm cho đất nước nên đã giảm nhẹ tội cho ông bằng cách sáng tạo ra lỗi lầm của Mị Châu và để ông cầm sừng tê đi xuống lòng biển về với Lạc Long Quân bất tử.

+ Cách hoá thân của An Dương Vương có ý nghĩa răn dạy vô cùng sâu sắc nếu so sánh với cách hoá thân của Thánh Gióng. Thánh Gióng có công cứu nước, khi hoá thì bay lên trời khiến người đời sau nhớ đến thì ngước nhìn lên ngưỡng vọng. An Dương Vương mang tội đánh mất nước, có cách hoá đi xuống lòng biển khiến người đời sau khi nhớ đến ông phải cúi nhìn sâu vào mà luôn cảnh giác với chính bản thân mình.

2. Mối tình Mị Châu – Trọng Thuỷ
a. Nhân vật Mị Châu

– Có vị trí cao trong đất nước lẽ ra phải ý thức sâu sắc được trách nhiệm cá nhân của mình với đất nước nhưng lại chỉ biết đắm chìm trong hạnh phúc lứa đôi cá nhân.

– Nàng ngây thơ cả tin đến mức sử dụng bí mật quốc gia cho tình riêng, để bảo vật giữ nước bị đánh tráo mà không hay biết.

– Khi nước đã mất vào tay Triệu Đà, trên đường chạy trốn, vẫn ngây thơ đánh dấu đường cho chồng, để nên nỗi hai cha con bị dồn vào đường cùng không lói thoát.

– Hậu quả của sự ngây thơ, thiếu ý thức trách nhiệm: Mị Châu bị kết tội là giặc, tình yêu, niềm tin tan vỡ, bị vua cha chặt đầu => đây là sự trừng phạt nghiêm khắc của lịch sử. Mị Châu phải trả giá đắt cho tội lỗi của mình.

– Thái độ của nhân dân với Mị Châu:

+ Một mặt đưa ra bản án nghiêm khắc, đích đáng trừng trị tội lỗi của nàng. Từ bi kịch của Mị Châu, nhân dân muốn nhắc nhở con cháu, đặc biệt là thế hệ trẻ cần có thái độ đúng đắn trong việc giả quyết mối quan hệ giữa nước và nhà, chung và riêng.

+ Một mặt thương cho nàng, bao dung cho nàng vì nàng có tâm hồn trong sáng, phạm tội do vô tình chứ không phải cố ý. Vì vậy, nhân dân đã sáng tạo ra lời khấn linh nghiệm của Mị Châu: máu biến thành ngọc trai, xác biến thành ngọc thạch.

b. Nhân vật Trọng Thuỷ

– Là nhân vật truyền thuyết khá phức tạp, có nhiều mâu thuẫn.

+ Trong thời kỳ đầu, Trọng Thuỷ đóng vai trò gián điệp, theo lệnh vua cha sang dò la bí mật quốc gia của Âu Lạc, đánh cắp lãy nỏ.

+ Trong quá trình sống chung với Mị Châu, có thể Trọng Thuỷ đã yêu nàng thực sự. Câu nói trước lúc chia tay Mị Châu về nước phần nào thể hiện chân tình, sự lo lắng của Trọng Thuỷ về sự tan vỡ của hạnh phúc. Khi Mị Châu chết, Trọng Thuỷ ôm xác vợ khóc lóc, sau đó thì tự tử.

– Cái chết của Trọng Thuỷ: cho thấy sự bế tắc, sự ân hận muộn màng của y. Trọng Thuỷ vừa là kẻ thù của nhân dân Âu Lạc vừa là nạn nhân trong tham vọng bá quyền của Triệu Đà. Trọng Thuỷ bị kẹt giữa 2 tham vọng quyền lực và hạnh phúc lứa đôi. Hai tham vọng đó không dung hoà được với nhau, tạo nên mâu thuẫn không thể giải quyết trong chính con người Trọng Thuỷ, do đó y chỉ còn mỗi cách kết liễu cuộc đời vì bế tắc.

– Thái độ nhân dân với Trọng Thuỷ:

+ Một mặt nhân dân ta vẫn kết tội cướp nước của Trọng Thuỷ, cái chết vì mâu thuẫn giằng xé là cái giá hắn phải trả.

+ Mặt khác , nhân dân ta vẫn bao dung vì dù sao Trọng Thuỷ đã hối lỗi và phải trả giá, nên đã sáng tạo ra chi tiết ngọc trai biển Đông nơi Mị Châu chết sẽ sáng hơn nếu đem vào rửa nước giếng nơi Trọng Thuỷ tự vẫn thể hiện, đó coi như sự tha thứ của Mị Châu cho hắn.

III. Tổng kết

– Truyện nêu ra bài học sâu sắc, thấm thía về ý thức cảnh giác trong dựng, giữ nước, bài học về cách xử lý mối quan hệ giữa nước và nhà.

– Truyện có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố thần kỳ và cốt lõi lịch sử, sáng tạo nhân vật giàu tính tư tưởng, sử dụng nhiều hình ảnh ấn tượng.