Dàn ý chi tiết: Nghị luận về ý nghĩa của tình yêu thương

I. Mở bài - Nêu vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của tình yêu thương Ví dụ: Kết thúc truyện Những người khốn khổ, trước khi qua đời, Huy-gô đã gửi gắm triết lý tình thương của mình trong câu dặn dò của Giăng-van-giăng:...

Dàn ý chi tiết: Quan niệm về hạnh phúc

I. Mở bài Giới thiệu vấn đề cần nghị luận trong bài: hạnh phúc. II. Thân bài 1, Giải thích hạnh phúc là gì? - Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc tích cực của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu...

Tuổi trẻ cần phải có bản lĩnh để đương đầu với mọi khó khăn, thử thách

I. Mở bài: - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Tuổi trẻ cần phải có bản lĩnh để đương đầu với mọi khó khăn, thử thách. II. Thân bài * Giải thích: – Bản lĩnh là sự tự khẳng định mình, bày tỏ những quan điểm...

Dàn ý chi tiết: Nghị luận xã hội về vấn đề thực phẩm bẩn

I. Mở bài - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Một đại biểu Quốc hội đã phát biểu trên nghị trường: “Chưa bao giờ con đường từ dạ dày đến nghĩa địa ngắn như ngày nay”. Đây là lời cảnh báo...

Đoạn trích: Chị em Thúy Kiều – Nguyễn Du

I. Những nét chính về đoạn trích

1. Vị trí, nội dung đoạn trích

– Vị trí: Đoạn trích Chị em Thúy Kiều nằm ở phần I của tác phẩm, “Gặp gỡ và đính ước”.

– Đoạn trích miêu tả hai bức chân dung xinh đẹp của chị em Thúy Vân, Thúy Kiều (đặc biệt Thúy Kiều).

– Đồng thời cũng dự báo tương lai, số phận của hai nàng Kiều.

2. Bố cục: Bốn phần

– Phần một: 4 câu đầu: Giới thiệu khái quát về hai chị em Thúy Kiều.

– Phần hai: 4 câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân.

– Phần ba: 12 câu tiếp theo: Gợi tả vẻ đẹp nhan sắc và tài năng của Thúy Kiều.

– Phần bốn: 4 câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống và phẩm hạnh của hai chị em.

II. Trọng tâm kiến thức

1. Giới thiệu khái quát về hai chị em Thúy Kiều (bốn câu đầu)

* Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật ước lệ, cổ điển để giới thiệu về lai lịch, vị trí trong gia đình và vẻ đẹp của hai chị em:

Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân

Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.”

Lai lịch: Họ là hai người con gái đầu trong gia đình họ Vương.

– Vị trí trong gia đình: Thúy Kiều là chị, Thúy Vân là em.

– Vẻ đẹp của hai chị em:

+ “Mai cốt cách”: Cốt cách thì thanh cao như hoa mai. Đó là một loài hoa mà sắc thì rực rỡ, hương thì quý phái.

+ “Tuyết tinh thần”: Phong thái, tinh thần thì trong trắng, tinh khiết như hoa tuyết.

* Nhịp điệu 4/4, 3/3 ở câu thơ thứ hai, ba nhịp nhàng, đôi xứng, làm nổi bật được vẻ đẹp đến độ hoàn mĩ của cả hai chị em.

* Tác giả sử dụng lời bình, để khép lại bốn câu thơ đầu:

– “Mỗi người một vẻ”, cho thấy nét riêng từ nhan sắc, tính cách, tâm hồn của mỗi người.

– “Mười phân vẹn mười”, đã tô đậm được vẻ đẹp đến độ toàn diện, hoàn hảo của hai chị em.

=> Lời giới thiệu vô cùng ngắn gọn, nhưng đã mang đến cho chúng ta nhiều thông tin phong phú và những ấn tượng đậm nét nhất về vẻ đẹp của hai nhân vật Thúy Vân và Thúy Kiều. Đồng thời, cũng bộc độ được cảm hứng ca ngợi cái tài hoa, nhan sắc của con người qua nghệ thuật điêu luyện, tài hoa của Nguyễn Du.

2. Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân (bốn câu tiếp)

Chỉ bằng bốn câu thơ, Nguyễn Du đã tả được một cách đầy đủ, trọn vẹn những đặc điểm của nhân vật Thúy Vân:

Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

– Câu thơ đầu tiên giới thiệu khái quát phong thái của Thúy Vân:

+ Từ “xem” thể hiện sự đánh giá mang tính chủ quan của người miêu tả.

+ Từ “trang trọng” cho thấy sự xuất hiện của nhân vật Thúy Vân với vẻ đẹp mang phong thái đoan trang, cao sang, quý phái.

=> Gợi ấn tượng tốt đẹp về một người phụ nữ trong khuôn khổ, lễ giáo của xã hội phong kiến.

– Tiếp đó, tác giả miêu tả một cách chi tiết, trọn vẹn bức chân dung tuyệt đẹp của nhân vật Thúy Vân qua bút pháp nghệ thuật ước lệ tượng trưng kết hợp thủ pháp ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, liệt kê và đi kèm những từ ngữ giàu sức gợi:

+ Hình ảnh ẩn dụ: “khuôn trăng đầy đặn” đã vẽ nên một khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, xinh đẹp, sáng sủa như mặt trăng rằm; “nét ngài nở nang” gợi tả một đôi lông mày cong, sắc nét như mày ngài. Cặp lông mày ấy tạo nên vẻ cân xứng, hài hòa trên khuôn mặt trẻ trung của Vân.

+ Hình ảnh nhân hóa: “hoa cười ngọc thốt” gợi tả khuôn miệng cười tươi tắn như hoa nở và tiếng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc ngà; “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” đã gợi tả mái tóc óng ả, nhẹ hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết.

+ Những từ ngữ giàu sức gợi: “đầy đặn”, “nở nang”, “đoan trang” làm nổi bật, nhấn vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu, quý phái của Vân.

+ Vẻ đẹp đoan trang của Thúy Vân được so sánh với những hình tượng đẹp nhất của thiên nhiên: trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết.

– Nguyễn Du đã sử dụng rất có chọn lọc hai động từ là “thua” và “nhường”. “Mây” và “tuyết” là của thiên nhiên, tạo hóa, hay đó còn là cả một xã hội phong kiến. Và với vẻ đẹp phúc hậu, hài hòa trong khuôn khổ của xã hội phong kiến, thì dẫu cho Vân có đẹp hơn những cái đẹp nhất của thiên nhiên thì nàng vẫn được đón nhận, bao học và yêu thương.

– Đặc biệt, từ bức chân dung ngoại hình của Thúy Vân, ta thấy được tính cách và số phận của nàng: tính cách rất trầm tĩnh, dịu dàng, đoan trang, phúc hậu. Đó là hình mẫu lí tưởng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nó dự đoán một số phận, tương lai êm ấm và bình lặng đang chờ đón nàng.

=> Bằng bút pháp cổ điển ước lệ, tượng trưng, Nguyễn Du đã khắc họa thành công bức chân dung của nhân vật Thúy Vân để từ đó gợi cho người đọc thấy được tính cách, và số phận của nàng.

3. Gợi tả vẻ đẹp nhan sắc và tài năng của Thúy Kiều (mười hai câu tiếp)

– Nếu như miêu tả bức chân dung của Thúy Vân, Nguyễn Du chỉ dùng có bốn câu thì đến Thúy Kiều ông dùng đến mười hai câu. Chứng tỏ, tác giả đã ưu ái, dùng nhiều bút lực và sự yêu mến đặc biệt cho nhân vật này.

– Sự yêu mến đó càng được khẳng định khi Nguyễn Du sử dụng nghệ thuật đòn bẩy một cách tài tình: Ông miêu tả nhân vật Thúy Vân trước như một tuyệt sắc giai nhân để làm nổi bật cho vẻ đẹp của Thúy Kiều:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn.”

– Từ “càng” đứng trước hai từ láy liên tiếp: “sắc sảo”, “mặn mà” để tô đậm vẻ đẹp “sắc sảo” về trí tuệ và vẻ “mặn mà” về tâm hồn của Thúy Kiều.

=> Không tả một cách cụ thể, nhưng Nguyễn Du đã khắc sâu trong tâm trí người đọc một ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp vượt trội của Thúy Kiều. Lối miêu tả giúp tác giả tránh được sự trùng lặp nhàm chán và phát huy được trí tưởng tượng của độc giả. Đây chính là sự tài hoa và tài tình của Nguyễn Du.

a. Vẻ đẹp nhan sắc

– Khác với Thúy Vân, tác giả không miêu tả cụ thể, chi tiết mà chỉ đặc tả đôi mắt theo lối “điểm nhãn”, tức là vẽ hồn chân dung bằng những hình ảnh mang tính ước lệ:

Làn thu thủy nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

+ “Làn thu thủy” đó là đôi mắt trong sáng, tĩnh lặng, sâu thẳm, huyền ảo như làn nước mùa thu.

+ “Nét xuân sơn” đó là đôi lông mày thì thanh tú, xinh đẹp như dáng núi mùa xuân.

=> Không cần phải nhiều nét, nhưng bức chân của nhân vật Thúy Kiều vẫn hiện lên với những gì hoàn mỹ nhất. Đôi mắt, nó không chỉ mang vẻ đẹp của bên ngoài mà đó còn là cửa sổ thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Đó cũng chính là cách tả truyền thống trong văn học trung đại: nét đậm đan xen với nét nhạt, chỗ tỉ mỉ, chỗ chấm phá.

– Hình ảnh nhân hóa “hoa ghen” và “liễu hờn” thể hiện thái độ của thiên nhiên trước vẻ đẹp của Kiều. Ông không tả trực tiếp vẻ đẹp ấy mà tả sự đố kị, ghen ghét để thêm khẳng định cho vẻ đẹp ấy. Và để khách quan, ông đã để cho tạo hóa đánh giá vẻ đẹp nhan sắc của Thúy Kiều.

– Vẻ đẹp của Kiều không chỉ khiến cho hoa phải “ghen”, liễu phải “hờn” mà còn khiến cho nước phải nghiêng, thành phải đổ. Một sức ngưỡng mộ, mê say đến điên đảo cho vẻ đẹp của Kiều.

– “Nghiêng nước nghiêng thành” còn là cách nói sáng tạo từ điển cốnhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc” (ngoảnh lại nhìn một lần thì làm nghiêng thành người, nghoảnh lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người) để cực tả vẻ đẹp của bậc tuyệt sắc giai nhân.

– Vẻ đẹp, chân dung của Thúy Kiều cũng dự báo về tính cách và số phận của nàng: Cái đẹp của Kiều không hài hòa mà vượt qua mọi khuôn khổ, chuẩn mực, phép tắc của tạo hóa, xã hội. Vì vậy khiến cho các vẻ đẹp khác phải ghen ghét, oán hận, đố kỵ và chứa đựng ý muốn trả thù. Nó dự báo về một tính cách, tâm hồn đa sầu, đa cảm, một số phận sóng gió.

=> Vẻ đẹp nhan sắc của Thúy Kiều mang một ấn tượng mạnh và sức gợi lớn cho người đọc. Đó là vẻ đẹp tuyệt thế giai nhân, vẻ đẹp của chiều sâu, hơn những gì đẹp nhất.

b. Vẻ đẹp của tài năng và tâm hồn

Không chỉ là một giai nhân tuyệt thế mà Nguyễn Du còn miêu tả Thúy Kiều là người thông minh, có trí tuệ và rất đa tài:

Thông minh vốn sẵn tính trời,

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương.

– Kiều là một người phụ nữ rất thông minh và có trí tuệ thiên bẩm.

=> Đây là một sự táo bạo của Nguyễn Du khi ông coi trí tuệ của người phụ nữ cũng là một phương diện để ca ngợi. Người phụ nữ trong khuôn khổ của xã hội phong kiến là “tam tòng, tứ đức”, là “công, dung, ngôn, hạnh”, là “cầm, kỳ, thi, họa” và không hề có phương diện thông minh. Cho nên sự thông minh của Kiều được đặt trong bối cảnh của xã hội phong kiến lúc bấy giờ là một sự bứt phá, dũng cảm và táo bạo của Nguyễn Du. Ông đã đưa Kiều vượt khỏi những mẫu mực của xã hội phong kiến.

– Nàng là người con gái đa tài, đủ cả cầm (đàn), kỳ (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ) và tài nào cũng đạt đến độ xuất chúng. Đặc biệt, tài đàn là sở trường của Kiều được Nguyễn Du tập trung miêu tả:

+ Tài đàn là năng khiếu, sở trường của nàng thì điêu luyện và vượt lên trên mọi người: “Làu bậc ngũ âm”, “ăn đứt hồ cầm”.

+ Không chỉ giỏi ca hát, chơi đàn, Kiều còn giỏi cả sáng tác. “Bạc mệnh” chính là khúc nhạc mà nàng đã sáng tác, khi cất lên thì khiến ai ai cũng xúc động.

– Miêu tả tài đàn là một cách mà Nguyễn Du tập trung gợi lên một thế giới tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, đa sầu, đa cảm của Thúy Kiều.

– Đặc biệt cung đàn “Bạc mệnh” như dự báo trước cuộc đời hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh tương đố khó tránh khỏi của Kiều.

=> Qua mười hai câu thơ, chúng ta thấy được vẻ đẹp hội tụ sắc – tài – tình, tất cả đều đến mức lí tưởng, xuất chúng của Thúy Kiều. Đồng thời, cho thấy sự tài hoa của Nguyễn Du trong nghệ thuật miêu tả nhân vật.

4. Nhận xét chung về cuộc sống và phẩm hạnh của hai chị em (bốn câu cuối)

  • Hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều không chỉ là những bậc tuyệt thế giai nhân mà họ còn là những người đức hạnh và sống có khuôn phép:

Phong lưu rất mực hồng quần,

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che,

Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”

+ Gia cảnh: Họ sống trong một gia đình “phong lưu”, khuôn phép, nề nếp.

+ Cuộc sống: Êm đềm, bình lặng, kín đáo trong “trướng rủ màn che”.

+ “Xuân xanh xấp xỉ”, “tuần cập kê” gợi đến cái tuổi “tóc búi, trâm cài” của cả hai chị em. Song họ vẫn sống một cuộc sống kín đáo, gia giáo sau bốn bức tường khép kín chưa từng biết đến chuyện nam nữ.

=> Hai chị em họ vẫn là những thiếu nữ có tâm hồn trong trắng như hai bông hoa vẫn còn trong nhụy, sống trong cảnh êm đềm và chưa một lần hương tỏa vì ai, đúng với khuôn phép, mẫu mực của lễ giáo phong kiến.

5. Cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du qua đoạn trích

– Gợi tả vẻ đẹp của chị em Thúy Vân, Thúy Kiều, Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao những giá trị, vẻ đẹp của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm hạnh, khát vọng ý thức về thân phận, nhân phẩm cá nhân.

– Bên cạnh việc trân trọng cái đẹp là những dự cảm đầy xót thương về kiếp người hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh tương đố của Nguyễn Du. Đó chính là biểu hiện của tấm lòng thương cảm sâu sắc, tràn đầy cảm hứng nhân văn với con người của Nguyễn Du.

III. Tổng kết

1. Nội dung

– Đoạn trích Chị em Thúy Kiều đã khắc họa rõ nét bức chân dung chị em Thúy Vân và Thúy Kiều. Qua đó ca ngợi vẻ đẹp tài năng của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh.

2. Nghệ thuật

– Bút pháp ước lệ tượng trưng tạo được sức gợi.

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh tế: xây dựng được những bức chân dung đa dạng, linh hoạt, thu hút.

– Nghệ thuật sử dụng ngôn từ độc đáo, đặc biệt là lựa chọn những từ có giá trị gợi tả cao.

Làm chủ kiến thức Ngữ văn – Luyện thi vào 10

Tác giả: Phạm Trung Tình

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Nổi bật

Dàn ý chi tiết: Nghị luận về ý nghĩa của tình yêu thương

I. Mở bài - Nêu vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của tình yêu thương Ví dụ: Kết thúc truyện Những người khốn khổ, trước khi qua đời, Huy-gô đã gửi gắm triết lý tình thương của mình trong câu dặn dò của Giăng-van-giăng:...

Dàn ý chi tiết: Quan niệm về hạnh phúc

I. Mở bài Giới thiệu vấn đề cần nghị luận trong bài: hạnh phúc. II. Thân bài 1, Giải thích hạnh phúc là gì? - Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc tích cực của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu...

Tuổi trẻ cần phải có bản lĩnh để đương đầu với mọi khó khăn, thử thách

I. Mở bài: - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Tuổi trẻ cần phải có bản lĩnh để đương đầu với mọi khó khăn, thử thách. II. Thân bài * Giải thích: – Bản lĩnh là sự tự khẳng định mình, bày tỏ những quan điểm...

Dàn ý chi tiết: Nghị luận xã hội về vấn đề thực phẩm bẩn

I. Mở bài - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Một đại biểu Quốc hội đã phát biểu trên nghị trường: “Chưa bao giờ con đường từ dạ dày đến nghĩa địa ngắn như ngày nay”. Đây là lời cảnh báo...

Dàn ý chi tiết: Bàn về giá trị của bản thân

I. Mở bài - Dẫn dắt vào vấn đề: sống giữa cuộc đời, mỗi người đều có giá trị của riêng mình, giá trị là điều cốt lõi tạo nên con người bạn. II. Thân bài 1. Giải thích - Giá trị của bản thân chính...

More from author

Dàn ý chi tiết: Nghị luận về ý nghĩa của tình yêu thương

I. Mở bài - Nêu vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của tình yêu thương Ví dụ: Kết thúc truyện Những người khốn khổ, trước khi qua...

Dàn ý chi tiết: Quan niệm về hạnh phúc

I. Mở bài Giới thiệu vấn đề cần nghị luận trong bài: hạnh phúc. II. Thân bài 1, Giải thích hạnh phúc là gì? - Hạnh phúc là...

Tuổi trẻ cần phải có bản lĩnh để đương đầu với mọi khó khăn, thử thách

I. Mở bài: - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Tuổi trẻ cần phải có bản lĩnh để đương đầu với mọi khó khăn, thử thách. II....

Dàn ý chi tiết: Nghị luận xã hội về vấn đề thực phẩm bẩn

I. Mở bài - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Một đại biểu Quốc hội đã phát biểu trên nghị trường: “Chưa bao giờ...
error: Content is protected !!