Đáp án đề thi chính thức vào 10 môn Ngữ văn – Sở GD Hà Nội 2019

12
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HÀ NỘI

ĐỀ CHÍNH THỨC

ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT

NĂM HỌC 2019 – 2020

Môn thi: NGỮ VĂN

Ngày thi: 02 tháng 6 năm 2019, Thời gian làm bài: 120 Phút

(Đề thi gồm 01 trang)

PHẦN I (7,0 điểm)

Mùa thi luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng góp vào đề tài này thi phẩm Sang thu sâu lắng.

1. Bài thơ Sang thu được sáng tác theo thể thơ nào? Ghi tên hai tác phẩm khác trong chương trình Ngữ văn 9 cũng viết theo thể thơ đó

2. Trong khổ thơ đầu, tác giả đã đón nhận thu về với “hương ổi”, “gió se”, “sương chùng chình” bằng những giác quan nào? Cũng trong khổ thơ này, các từ “bỗng” và “hình như” giúp em hiểu gì về cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ?

3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của phép thu từ nhân hóa trong câu thơ “Sương chùng chình qua ngõ”.

4. Khép lại bài thơ, Hữu Thỉnh viết:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mua

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”.

(Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018)

Bằng một đoạn văn khoảng 12 câu theo phép lập luận tổng hợp – phân tích – tổng hợp, em hãy làm rõ những cảm nhận tinh tế và sâu sắc của tác giả ở khổ thơ trên, trong đó có sử dụng câu bị động và câu có thành phần cảm thán (gạch dưới một câu bị động và một thành phần cảm thán).

Phần II (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

“Có người nói thành đạt la do gặp thời, có người lại cho là do hoàn cảnh bức bách, có người cho là do có điều kiện được học tập, có người lại cho là do có tài năng trời cho. Các ý kiến đó mỗi ý chỉ nói tới một nguyên nhân, mà lại đều là nguyên nhân khách quan, họ quên mất nguyên nhân chủ quan của con người.

Thật vật. Gặp thời là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội cũng sẽ qua đi. Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chỉ; có người lại gồng mình vượt qua.”

(Nguyên Hương, Trò chuyện với bạn trẻ, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018)

  1. Xác định một phép liên kết được sử dụng trong hai câu văn in nghiêng ở trên và chỉ rõ từ ngữ dùng làm phương tiện liên kết.
  2. Theo tác giả, khi gặp “hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục”, con người có những cách ứng xử nào?
  3. Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy trình này suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về ý kiến: Phải chăng hoàn cảnh khó khăn cũng là cơ hội để mỗi người khám phá khả năng của chính mình chăng?

—————–Hết—————–

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Phần I:

1. – Sang thu được sáng tác bằng thể thơ 5 chữ.

– Hai tác phẩm viết theo thể thơ 5 chữ: Ánh trăng – Nguyễn Duy; Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải.

2. – Tác giả đã đón nhận thu về bằng những giác quan:

+ Khướu giác: hương ổi

+ Xúc giác: gió se

+ Thị giác: sương chùng chình

– Cảm xúc, tâm trạng của tác giả qua hai từ “bỗng”, “hình như”

+ Bỗng: diễn tả cảm giác bất ngờ, đột ngột, ngỡ ngàng của nhân vật trữ tình.

+ Hình như: là lối nói giả định, phán đoán, không chắc chắn, với một chút nghi hoặc, diễn tả tâm trạng hoài nghi, cảm nhận mơ hồ trước  những hiệu thu về.

3. – Tác dụng của biện pháp nhân hóa qua câu “sương chùng chình qua ngõ”:

+ Gợi hình ảnh màn sương mỏng, nhẹ, đặc trưng của mùa thu Bắc bộ, gợi lên không gian làng quê thanh bình, yên ả.

+ Khiến cho màn sương như có hồn, gợi lên dáng vẻ lãng đãng như đợi chờ, cố ý như chậm lại đầu lưu luyến. Đó cũng là tâm trạng, cảm xúc của con người khi đứng trước cửa ngõ mùa thu.

+ Gợi liên tưởng đến những đường làng, ngõ xóm hay cũng là cửa ngõ của thời gian thông qua giữa hai mùa (cuối hạ, đầu thu).

=> Giúp câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, gây ấn tượng vơi người đọc.

4.

Yêu cầu về hình thức

– Đoạn văn 12 câu theo cách lập luận tổng hợp – phân tích – tổng hợp.

– Sư dụng câu bị động và câu có thành phần cảm thán.

Yêu cầu về nội dung, học sinh cần đảm bảo những yêu cầu sau

* Giới thiệu chung vấn đề

* Phân tích

– Khổ thơ cuối, thu đã hiên ra rõ nét, nhà thơ cảm nhận bằng những chiều sâu kinh nghiệm, bằng những suy tư sâu lắng chứ không chỉ bằng những giác quan như khổ thơ thứ 1.

– Nghệ thuật đối qua hình ảnh “vẫn còn”><“vơi dần”; “nắng”><“mưa” đã tái hiện sự vận động trái chiều của hai hiện tượng thiên nhiên. Tác giả đã mượn những hiện tượng thiên nhiên quen thuộc, dễ nắm bắt để cụ thể hóa khoảnh khắc phút giao mùa.

– Những từ chỉ mức độ, ước lượng: “vẫn còn”, “bao nhiêu”, “vơi”, “bớt” được sắp xếp theo trình tự giảm dần, cho thấy dấu hiệu của mùa hạ đang hạt dần và những dấu hiệu của mùa thu  ngày một đậm nét hơn.

– Đối diện với mùa thu của đất trời, trong lòng nhà thơ dào dạt bao suy ngẫm về đời người lúc chớm thu qua những hình ảnh giàu sức gợi. Hình ảnh của “sấm” không chỉ là hiện tượng, dấu hiệu cho những cơn mưa rào mùa hạ mà còn ẩn dụ cho những biến động, bất thường, thử thách trong cuộc đời của mỗi một con người.

– Hình ảnh “sấm” đi liền với lối miêu tả “bớt bất ngờ” và “hàng cây đứng tuổi” đã tả thực về hiện tượng, đó là sang thu, tiếng sấm như nhỏ dần, không còn đủ sức lay động những hàng cây đã qua bao mùa thay lá. Hay ẩn dụ về những con người từng trải, giờ đến tuổi xế chiều thì trở nên vững vàng hơn, ung dung hơn trươc những thay đổi, biến động của cuộc đời.

* Tổng kết vấn đề: Khổ thơ đã bộc lộ trọn vẹn những khoảnh khắc thiên nhiên và đời người sang thu, với những cảm nhận tinh tế và suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ.

Tham khảo thêm bài giảng: Sang thu – Hữu Thỉnh

Phần II.

1. – Phép liên kết: Phép nối

– Từ ngữ dùng làm phép liên kết: Nhưng

2. – Khi gặp “hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục” có những cách ứng xử:

+ Bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí.

+ Có người gồng mình vượt qua.

3.

– Yêu cầu:

+ Văn phong rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, đặt câu.

+ Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, thuyết phục.

* Giới thiệu vấn đề: Hoàn cảnh khó khăn cũng chính là cơ hội để mỗi người khám phá khả năng của chính mình.

* Bàn luận vấn đề:

– Giải thích: Hoàn cảnh khó khăn là những bất lợi, khó khăn khi ta làm một công việc nào đó.

=> Trong hành trình đi đến thành công không phải ai cũng gặp may mắn, chúng ta tất yếu sẽ gặp khó khăn, vấp ngã mà buộc phải đứng dậy, vượt qua. Chính trong hoàn cảnh khó khăn đó con người sẽ khám phá nhiều năng lực của bản thân.

– Biểu hiện: Khi làm một công việc nào đó ta gặp trở ngại, vấp ngã không thể hoàn thành. Trong một bài toán không tìm ra lời giải, trong một bài văn không định hướng được cách làm,…

– Ý nghĩa, vai trò của khóa khăn với con người:

Vì sao nói hoàn cảnh khó khăn là cơ hội để khám phá khả năng của chính mình?

+ Gặp hoàn cảnh khó khăn ta mới phát hện được năng lực giải quyết vấn đề của bản thân.

+ Gặp hoàn cảnh khó khăn ta mới khám phá được óc sáng tạo của bản thân, sự nhanh nhạy của bản thân.

+ Gặp khó khăn ta mới biết được sức lì, sự chịu đựng của chính mình, có thể vượt qua được những khó khăn đó hay không. Đây cũng là cơ hội để ta rèn luyện năng lực của bản thân.

+ Người ta vẫn thường nói ở tận cùng khó khăn sẽ là nơi mở ra cơ hội mới. Cơ hội đó cũng chính là khả năng nắm bắt của mỗi cá nhân trước thời cuộc.

+ Gặp khó khăn sẽ giúp ta nhận ra những thiết sót của bản thân để sửa chữa, trau dồi.

– Chứng minh: học sinh lấy dẫn chứng phù hợp với yêu cầu của đề.

– Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân:

+ Không phải ai cũng có thể vượt qua khó khăn, họ buông xuôi nên thất bại, sống cuộc đời dễ dàng nhưng vô nghĩa, đó là lối sống đáng phê phán.

+ Đứng trước khó khăn, thử thách con người cần bình tĩnh, tự tin, xét đoán mọi vấn đề để tìm ra phương hướng giải quyết. Không nản lòng, không sợ gian khổ vượt qua mọi khó khăn.

*Tổng kết vấn đề