Tìm hiểu chi tiết: Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình

96

Ca dao – dân ca “là tiếng hát đi từ trái tim lên miệng” là thơ ca trữ tình dân gian. Ca dao-dân ca Việt Nam là cây đàn muôn điệu của tâm hồn nhân dân, nhất là những người lao động. Tâm hồn tình cảm con người bao giờ cũng bắt nguồn từ tình cảm ân nghĩa đối với những người ruột thịt trong gia đình. Bài ca tình nghĩa trong kho tàng ca dao- dân ca Việt Nam vô cùng phong phú. Trong đó 4 bài ca dao của văn bản Những câu hát về tình cảm gia đình là tiêu biểu, vừa sâu sắc về nội dung, vừa sinh động, tinh tế về ngôn ngữ ngôn từ.

I. Tìm hiểu chung

1. Ca dao – dân ca là gì?

– Thể loại trữ tình dân gian kết hợp lời và nhạc.

– Diễn tả đời sống tâm hồn của con người.

– Mang tính chân thực, hồn nhiên, mang đặc điểm nghệ thuật truyền thống, bền vững.

– Phân biệt:

+ Ca dao: lời thơ của dân ca.

+ Dân ca: gồm cả lời và nhạc.

2. Bố cục

– Bài 1: Ơn nghĩa công lao cha mẹ

– Bài 2: Nỗi nhớ mẹ nơi quê nhà

– Bài 3: Nỗi nhớ và lòng kính yêu ông bà

– Bài 4: Tình anh em ruột thịt

3. Phương thức biểu đạt

Thể thơ lục bát, giọng điệu tâm tình, các hình ảnh quen thuộc.

II. Tìm hiểu văn bản

1. Bài 1

Công cha như núi ngất trời,

Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.

– Là lời mẹ ru con, về công lao cha mẹ, nói với con:“con ơi”.

– Hai câu đầu, tác giả dùng hình ảnh so sánh, ví von quen thuộc của cao dao là thiên nhiên, to lớn, mênh mông vĩnh hằng chọn làm biểu tượng cho công cha, nghĩa mẹ vừa cụ thể, vừa sinh động.

=> Khẳng định và ca ngợi công lao to lớn của cha mẹ. Nhưng không phải là giáo huấn khôn khan mà rất cụ thể và sinh động.

– Hai câu tiếp theo là lời nhắn nhủ ân tình tha thiết được thể hiện qua hình ảnh ẩn dụ:

Núi cao biển rộng mênh mông,

Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!

– Cù lao chín chữ: Cụ thể hóa công cha, nghĩa mẹ và tình cảm biết ơn của con cái.

– Cụm từ “cù lao chín chữ” và các biện pháp so sánh, ẩn dụ tác giả muốn thể hiện một ách tuyệt đẹp công lao trời bể của cha mẹ. Nhắc nhở mọi người lòng biết ơn cha mẹ, làm con phải có bổn phận chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ.

– Dùng ngôn ngữ có âm điệu của lời ru khiến cho nội dung chải chuốt, ngọt ngào đi vào lòng người như dòng sữa mẹ truyền vào máu thịt, cơ thể người con.

=> Bài học về đạo làm con thật sâu xa và thấm thía.

2. Bài 2

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

– Nỗi niềm của người con gái lấy chồng, xa quê nhớ thương mẹ già ở quê nhà.

– Thời gian: chiều chiều => gợi kỷ niệm buồn đau khôn nguôi, nhiều buổi chiều. Chiều chiều là thời gian ước lệ, là thời gian gợi nhớ, gợi thương đối với người ở xa quê. Vì đó là thời điểm trở về sum họp của gia đình. Chim thì về tổ, con người thì về nhà.

– Không gian: ngõ sau => yên tĩnh, gợi ra cảnh ngộ cô đơn, phù hợp với tâm trạng cô đơn, che giấu nỗi buồn riêng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

– Hành động: ra đứng, trông => gợi nỗi niềm buồn nhớ. Nỗi nhớ được khắc sâu qua cụm từ “ruột đau chín chiều”, đây là cách nói ước lệ, đặc tả để chuyển nỗi đau tình cảm thành nỗi đau thể xác.

=> Cách nói ước lệ, đặc tả tâm trạng thương nhớ, xót xa và nỗi buồn sâu lắng, âm thầm không biết chia sẻ cùng ai khi nghĩ về quê mẹ nơi quê nhà. Đó là nỗi buồn về thân phận của người con gái khi lấy chồng xa quê: sự bất bình đẳng nam – nữ trong xã hội phong kiến xưa kia.

3. Bài 3

Ngó lên nuột lạt mái nhà

Bao nhiêu nuột nạt nhớ ông bà bấy nhiêu

– Là lời của cháu (con) nói với ông bà, người thân.

– Nỗi nhớ – nuột lạt => hình ảnh so sánh diễn tả tình cảm sâu lặng, rộng lớn, da diết.

– Ngó lên: sự trân trọng, tôn kính của cháu đối với ông bà.

=> Đó đều là những hình ảnh đơn sơ diễn tả tình cảm đối với ông bà được ví von như những nuột nạt buộc trên mái nhà, vừa nhiều, vừa bền chặt, vững chãi.

– “Bao nhiêu…bấy nhiêu” => nỗi nhớ thường xuyên, liên tục và bền chặt.

=> Bằng một loạt hình ảnh so sánh (tăng cấp), từ ngữ đặc tả, bài ca đã diễn tả nỗi nhớ thương và sự tôn kính của con cháu đối với ông bà, tổ tiên.

4. Bài 4

Anh em nào phải người xa

Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân

Yêu nhau như thể tay chân

Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy

– Là lời của ông bà, cô bác nói với con cháu, hoặc lời của cha mẹ nói với con cái, hay lời của anh em ruột thịt nói với nhau.

– 2 câu đầu như 1 định nghĩa về anh em, phân biệt anh em với người xa. Từ phân định “nào phải” làm rõ nghĩa cho câu 1. Từ khẳng định “cùng” trong “cùng chung bác mẹ” nêu rõ tình cảm ruột thịt: cùng huyết thống, sống chung dưới một mái nhà, cùng vui buồn có nhau. Từ khẳng định “cùng” trong “cùng thân” là kết quả của cụm từ “cùng chung cha me”.

=> Hình ảnh so sánh diễn tả sự gắn bó, keo sơn, không thể chia cắt.

=> Bằng hình ảnh so sánh quen thuộc, bài ca là tiếng hát tình cảm về tình anh em yêu thương gắn bó đem lại hạnh phúc cho nhau. Qua đó muốn nhắn nhủ chúng ta biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh.

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật

– Sử dụng các biện pháp so sánh, ẩn dụ, đối xứng tăng cấp…

– Có giọng điệu ngọt ngào mà trang nghiêm.

– Diễn tả tình cảm qua những mô típ.

– Sử dụng thể thơ lục bát và lục bát biến thể.

2. Nội dung

Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình nhấn mạnh những tình cảm sâu lặng, thiêng liêng nhất trong đời sống mỗi con người cần phải khắc sâu: Tình cảm đối với ông bà cha mẹ, anh em và tình cảm của ông bà, cha mẹ đối với con cháu.