Văn bản: Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải

Cuộc sống là món quà đẹp nhất tạo hóa dành tặng cho con người. Sống, tận hưởng nhưng còn phải tấn hiến. Thế nên, Tố Hữu trong bài “Một khúc ca xuân” đã có những lời tâm niệm:

Nếu là con chim, chiếc lá
Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình

Đó cũng chính là nguồn cảm hứng chung, mãnh liệt thôi thúc nhà thơ Thanh Hải cầm bút viết nên thi phẩm quá đỗi nhân văn – “Mùa xuân nho nhỏ”. Chúng ta cùng đi tìm hiểu bài thơ:

I. Những nét chính về tác giả – tác phẩm

1. Tác giả

– Thanh Hải (1930 – 1980), tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Đây là mảnh đất cố đô, cổ kính, thâm trầm, nơi sẽ để lại dấu ấn rất sâu đậm  trong tâm hồn của nhà thơ và in bóng trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.

– Ông tham gia hoạt động văn nghệ từ cuối năm kháng chiến chống Pháp. Sự nghiệp thơ văn Thanh Hải gắn liền với hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

– Mang trong mình “cái tạng” riêng, thơ của ông thường hướng tình cảm của mình về miền Bắc xa nhớ trong những năm đất nước bị chia cắt với hồn thơ giản dị, mộc mạc đậm tính Huế.

– Đọc Mùa xuân nho nhỏ, chúng ta có thể phần nào cảm nhận được phong cách sáng tác rất riêng của Thanh Hải: ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, cảm xúc chân thành, đằm thắm,…

2. Tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ

a. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được viết tháng 11 năm 1980. Đây là thời điểm Thanh Hải đang bệnh nặng và chỉ mấy tuần sau ông qua đời. Bài thơ là những dòng chữ cuối cùng mà nhà thơ để lại. Nó như một sự tổng kết về cuộc đời của ông và gửi gắm về lẽ sống cao cả, đẹp đẽ.

Điều đặc biệt  trong hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ đó là khoảnh khắc hấp hối của thi nhân trên giường bệnh. Dù phải chống trọi với cơn đau của bệnh tật, Thanh Hải vẫn “dành trọn từng giây, từng phút” thăng hoa với văn chương nghệ thuật, cho đời và cho người những tác phẩm nhân văn sâu sắc.

Thầy chợt nhớ đến Văn học thời Lý, có thiền sư Mãn Giác đến lúc bệnh nặng, sắp viên tịch cũng có những vần thơ tràn nhập niềm lạc quan yêu đời:

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua trước sân một nhành mai.

b. Ý nghĩa nhan đề Mùa xuân nho nhỏ

Nhan đề giống như tên gọi của một con người. Thông qua nhan đề, người đọc một phần nào đoán hiểu nội dung – tưởng tưởng – tình cảm mà tác giả gửi gắm vào trong đó.

– Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ trước hết gợi nhắc về một đề tài quen thuộc, gần gũi trong thi ca. Đó là chủ đề về mùa xuân.

– Tác giả đã kết hợp một danh từ trừu tượng là “mùa xuân” với một tính từ cụ thể là “nho nhỏ” để biến một mùa xuân từ trừu tượng trở nên thật gần gũi, hữu hình, cụ thể và mang đến những lớp nghĩa khác nhau:

+ Lớp nghĩa thực:  Mùa xuân nho nhỏ gợi về mùa xuân của đất trời, của thiên nhiên vũ trụ, của cỏ, cây, hoa, lá và có thể cảm nhận được bằng những điểm chạm của giác quan.

+ Lớp nghĩa ẩn dụ: Mùa xuân nho nhỏ thể hiện khát vọng, lí tưởng muốn cống hiến tất cả những gì đẹp đẽ nhất, tinh túy nhất cho cuộc đời, quê hương, đất nước của nhà thơ. Qua đó, thể hiện sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và tập thể.

– Thông qua nhan đề Mùa xuân nhỏ nhỏ, cũng phần nào cho thấy được sự khiêm nhường của nhà thơ. Nhà thơ ước nguyện làm một mùa xuân, nghĩa là sống đẹp, sống có ích nhưng khiêm nhường là một mùa xuân nhỏ góp phần vào mùa xuân lớn của dân tộc.

=> Mùa xuân nho nhỏ nhưng ý tưởng, tư tưởng thì thật không nhỏ chút nào.

Bài tập: Nêu ý nghĩa nhan đề bài thơ, từ đó liên hệ tới mối quan hệ với tác phẩm.

c. Bố cục: Ba phần

Thầy vẫn ví, bố cục như Atlat của một tác phẩm. Việc phân chia bố cục bài thơ sẽ góp phần tìm hiểu bài thơ một cách dễ dàng và khoa học hơn:

– Phần một: 1 khổ thơ đầu: Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên.

– Phần hai: 2 khổ tiếp theo: Cảm xúc của nhà thơ về mùa xuân đất nước, con người

– Phần ba: 3 khổ còn lại: Khát vọng và lí tưởng sống cao đẹp của tác giả.

II. Trọng tâm kiến thức

1. Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên

a. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân qua lăng kính của nhà thơ Thanh Hải

Mùa xuân ở đây, có thể hiểu là mùa xuân trong tưởng tượng của thi nhân. Bởi lẽ thời điểm tác giả viết bài thơ mới là khoảng tháng 11/1980. Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ mở ra bằng một khung cảnh thiên nhiên trong trẻo và tràn đầy sức sống của mùa xuân:

“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời”

– Sử dụng nghệ thuật đảo ngữ ở động từ “mọc”:

+ “Mọc” có nghĩa cây cối đâm chồi, nảy lộc. Việc đảo động từ “mọc” lên đầu câu thơ để tô đậm sức sống mạnh mẽ, sức bật đến bất ngờ của một bông hoa trên dòng sông xanh.

+ Gợi liên tưởng về một bông hoa đang từ từ vươn lên trên mặt nước tràn đầy sức xuân và sắc xuân.

=> Xuân trong thơ Thanh Hải có đường nét và rất có nội lực.

– Nếu ví Mùa xuân nho nhỏ là bức tranh xuân xứ Huế, thì Thanh Hải hẳn là một nghệ sĩ rất tài hoa. Bức tranh đó được chấm phá bằng hình ảnh chọn lọc và giàu sức gợi: “Dòng sông xanh”, “hoa tím biếc”, “chim chiền chiện”.

+ Đó là những hình ảnh, tín hiệu đặc trưng của mùa xuân xứ Huế. Nói đến xuân, trường liên tưởng chung có lẽ mầm xanh, chồi biếc, nó như là những mẫu mực chung của mùa xuân rồi. Nhưng nói đến xuân xứ Huế hẳn không thể thiếu sông xanh, tím biếc của sông Hương. Bạn có thể tượng tượng được không khi mùa xuân không có chim hót, không có hoa nở.

+ Gợi lên không gian mênh mông sóng nước và một bầu trời cao rộng, trong veo. Bức tranh đó mở ra có đủ chiều rộng, chiều cao, chiều dài, chiều sâu nhưng chắc hẳn là rất yên tĩnh. Cho nên chỉ cần tiếng hót trong trẻo thanh thanh của chú chiền chiện nhỏ nhắn đã phá vỡ cả không gian mùa xuân tĩnh tại.

– Để cho bức tranh thiên nhiên mùa xuân hài hòa, tươi sáng, ông đã sử dụng những gam màu tươi tắn “xanh, tím”. Nó có sự kết hợp của gam màu lanh là màu xanh + gam màu nóng là màu tím.

– Nếu mùa xuân trong thơ Tố Hữu có “Mùa xuân mơ nở trắng rừng” thì Thanh Hải chỉ say đắm một đóa lục bình tím mà thôi. Câu thơ thứ hai đọc lên tưởng chừng vô lý, bởi lẽ giữa dòng sông dài rộng kia làm sao chỉ có “một bông hoa” cho được? Thế nhưng đằng sau cái vô lý của logic còn là cái có lý của cảm xúc. Bút pháp chấm phá cùng điểm nhìn đặt vào một bông hoa nhỏ bé giữa dòng đã phần nào tạo nên điểm nhấn cho bức tranh. Là một bông nhưng không hề gợi ra cái vẻ cô đơn lẻ loi, trái lại, đó là cảm giác say mê ngắm nhìn, tận hưởng cảnh đẹp của tạo hóa một cách trọn vẹn.

b. Xúc cảm của nhà thơ

Khi đối diện với vẻ đẹp ấy, cho dù là ai cũng phải ngỡ ngàng, xao xuyến đến say sưa:

“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”

– Xuân không chỉ hiện hữu qua màu sắc, đường nét mà còn hài hòa cả âm thanh. Hình ảnh “giọt long lanh rơi” thật giàu sức gợi:

+ Đó có thể là giọt mưa mùa xuân, giọt sương buổi sớm, dưới ánh sáng của mặt trời trở nên long lanh, đẹp đẽ, nên thơ.

+ Trong mối quan hệ với câu thơ trước gợi lên một liên tưởng thú vị, tiếng hót của con chim chiền chiện vang vọng nhưng không tan biến trong không gian mà đọng lại thành từng giọt trong vắt, “long lanh”. Như một thứ quà tặng rất riêng của thiên nhiên xứ Huế, thi nhân đã vội vàng đưa đôi bàn tay để hứng lấy. Tiếng chim từ chỗ được cảm nhận bằng thính giác chuyển thành thị giác rồi xúc giác để thi nhân có thể cảm nhận được một cách rất trọn vẹn. Đó chính là nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được Thanh Hải sử dụng một cách tài tình, tinh tế.

– Ấn tượng nhất trong bức tranh đầy xuân sắc xuân tình là chi tiết “từng giọt long lanh rơi”. Đặt vào hoàn cảnh sáng tác bài thơ, giữa tiết trời đông lạnh giá, hanh khô của xứ Huế, hóa ra giọt sương ấy không chỉ đơn thuần là hình ảnh tả thực. Nó được tạo ra dưới hình thức nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “nghe -nhìn”. Nằm trên giường bệnh, làm sao thi nhân có thể đưa mắt ngắm nhìn giọt sương nhỏ bé ở xa? Chính tâm hồn nhạy cảm, đầy luyến ái đã gợi cho nhà thơ những vẻ đẹp chỉ có thể cảm nhận bằng toàn bộ trái tim mình. Ta hiểu “giọt long lanh” ấy chính là giọt âm thanh của tiếng chim, của sức sống mùa xuân đang phơi phới căng tràn trong lồng ngực. Thi nhân dường như đã quyện hòa hoàn toàn trong thiên nhiên tự lúc nào.

– Các từ cảm thán “ơi”, “chi” gợi lên một chất giọng ngọt ngào, thân thương, gần gũi, đặc chi chất Huế.

– Điệp từ “tôi” được điệp lại 2 lần cho thấy sự xuất hiện của nhân vật trữ tình.

– Động từ “hứng” thể hiện những gì là nâng niu, trân trọng.

Đại từ “tôi” được điệp hai lần và đi liền với hành động “hứng” cho thấy thái độ trân trọng của thi nhân trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Đồng thời, gợi sự tận hưởng, chiếm lĩnh và giao hòa với mùa xuân.

=> Chỉ với vài nét vẽ, đan xen một chút chất nhạc, Thanh Hải đã phác họa được một bức tranh có cái hồn mùa xuân xứ Huế. Nó đủ đầy cả màu sắc, hình ảnh, âm thanh. Từ đó, bộc lộ được niềm say xưa, ngây ngất của tác giả trước thiên nhiên đất trời mùa xuân.

Bài tập: Những câu thơ sau sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Em hãy nêu tác dụng của biện pháp ấy.

Với những xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời Thanh Hải đã tìm thấy niềm cảm xúc ấy lan tỏa, ngân nga trong mùa xuân của đất nước, con người.

2. Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân đất nước, con người

a. Mùa xuân của con người

Từ vẻ đẹp của mùa xuân quê hương, Thanh Hải đã mở rộng để khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của mùa xuân đất nước:

“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ

– Nhà thơ cảm nhận mùa xuân đất nước qua hình ảnh sóng đôi “người cầm súng” và “người ra đồng”:

+ Biểu trưng cho hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của đất nước ta là cùng chiến đấu ở tiền tuyến và lao động xây dựng hậu phương vững chắc.

+ Hình ảnh “người cầm súng” đi liền với hình ảnh “lộc giắt đầy trên lưng” gợi liên tưởng đến vòng lá ngụy trang của người chiến sĩ đang nảy những chồi non, lộc biếc cùng các anh ra trận để bảo vệ tổ quốc.

+ Hình ảnh “người ra đồng” đi liền với hình ảnh “lộc trải dài nương mạ” gợi liên tưởng đến những cánh đồng màu mỡ, xanh tươi của những bàn tay khéo léo gieo trồng của người nông dân. Họ như mang cả mùa xuân cho đồng ruộng, gieo màu xanh của hạnh phúc ấm no.

=> Nhà thơ đã cho thấy mối quan hệ giữa con người và mùa xuân. Mùa xuân phát triển sinh sôi theo bước chân con người và con người lại gieo lộc xuân góp vào mùa xuân đất trời.

– Điệp từ “mùa xuân”, “lộc”:

+ Gợi quang cảnh mùa xuân tươi đẹp đang vươn những chồi non lộc nõn.

+ Ẩn dụ tượng trưng cho tín hiệu, thành quả trong công cuộc xây dựng, sản xuất và chiến đấu. Là thành quả của cuộc cách mạng Việt Nam trên khắp các mặt trận giải phóng dân tộc.

– Điệp từ “lộc” kết hợp với từ “giắt đầy”, “trải dài” gợi màu xanh của sức xuân bất tận.

– Từ những suy nghĩ rất thực về đất nước, nhà thơ đã đi đến khái quát:

Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao

+ Từ “tất cả” cho thấy tinh thần dân tộc, đoạn kết của những con người trong thời đại mới.

+ “Hối hả” diễn tả nhịp điệu khẩn trương, tất bật; “xôn xao” bộc lộc tâm trạng náo nức, rộng ràng. 

 Điệp từ “tất cả” đi liền với những từ láy biểu cảm “hối hả”, “xôn xao” làm cho nhịp thơ trở nên nhanh, gấp, gợi một nhịp sống, không khí sôi động, hối hả, khẩn trương trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước. Cả dân tộc bước vào mùa xuân với khí thế khẩn trương, náo nhiệt, hân hoan.

Bài tập: Từ “lộc” trong bài được sử dụng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Hãy giải thích tại sao tác giả lại miêu tả người lính là “lộc dắt đầy trên lưng”?

b. Mùa xuân của đất nước

Trước mùa xuân của con người, nhà thơ đã bày tỏ niềm tự hào và niềm tin tuyệt đối vào tương lai tươi sáng của đất nước:

Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước

Hệ thống tính từ “vất vả”, “gian lao” đã giúp tác giả đúc kết chặng đường 4000 năm dựng nước và giữ nước với biết bao thăng trầm, thử thách. Trong suốt chiều dài lịch sử ấy, đất nước ta đã trải qua biết bao đau thương và mất mát, song đã khẳng định được sức mạnh, ý chí và bản lĩnh của dân tộc mình. Cả ngàn năm đô hộ, nhưng chúng ta vẫn giữ được tiếng nói riêng, văn hoá riêng của dân tộc mình, không bị đồng hoá.

– Hình ảnh so sánh “đất nước như vì sao” gợi lên những liên tưởng và ý nghĩa thật sâu sắc:

+ Gợi liên tưởng đến nguồn sáng lấp lánh, tồn tại vĩnh hằng trong không gian và thời gian.

+ Gợi liên biểu tượng thiêng liêng trên lá cờ đỏ sao vàng tổ quốc với biết bao kiêu hãnh và tự hào.

+ Gợi ý nghĩa về dân tộc Việt Nam ta trong suốt chiều dài lịch sử, từ trong đêm tối nô lệ đã phá tan xiềng xích, thoát khỏi phong kiến, thực dân để tỏa sáng.

+ Gợi niềm tin của tác giả vào một tương lai tươi sáng, rộng mở với khí thế đi lên mạnh mẽ không gì cản nổi.

Điệp từ “đất nước” cộng với cấu trúc song hànhđất nước bốn ngàn năm… đất nước như vì sao…” diễn tả sự vận động liên tục đi lên của lịch sử và khẳng định sự trường tồn vĩnh cửu của đất nước.

– Phụ từ “cứ” chỉ sự tiếp diễn của thời gian kết hợp với động từ “đi” thể hiện quyết tâm cao độ, ý chí và niềm tin sắt đá của nhà thơ và cả dân tộc về tương lai tươi sáng của đất nước. Một dân tộc sẽ luôn luôn trường tồn, mãi mãi phát triển.

=> Giọng thơ vừa tha thiết sôi nổi, vừa trang trọng đã gói trọn niềm yêu mến tự hào, tin tưởng của nhà thơ vào đất nước. Nhà thơ đã khái quát cả quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc, để từ đó đúc rút một quy luật: dân tộc Việt Nam mãi mãi đi lên.

3. Khát vọng và lí tưởng sống cao đẹp của nhà thơ

Từ những cảm xúc vui mừng, say xưa, ngây ngất trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời xứ Huế vào xuân, vào tương lai tươi sáng của đất nước, Thanh Hải đã có những lời ước nguyện thật thiết, cảm động:

Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến

– Nhà thơ đã đổi đại từ nhân xưng từ “tôi” sang “ta”. Đại từ “ta” bộc lộ một cách trực tiếp tâm niệm của thi nhân.

– Nếu như ở khổ thơ đầu, nhân vật trữ tình xưng “tôi”- tức là cái tôi riêng của thi nhân thì đến đây Thanh Hải đã chuyển thành “ta”, nghĩa là đại từ chỉ chung cho tất thảy mọi người. Nhà thơ như hòa nhập tâm hồn mình vào tâm hồn của tạo vật, con người để nói hộ chung tiếng nói của vô vàn những người khác.

– Điệp cấu trúc ngữ pháp Ta làm… Ta nhập…” được đặt ở vị trí đầu của ba câu thơ đã khiến cho nhịp điệu thơ trở nên nhẹ nhàng, khiến cho câu thơ như một lời thủ thỉ tâm tình về ước nguyện hóa thân, hiến dâng cho quê hương, đất nước của nhà thơ.

Hệ thống hình ảnh “con chim hót”, “cành hoa”, “nốt trầm xao xuyến” là những hình ảnh giản dị nhưng cũng thật hàm xúc:

+ Con chim cất cao tiếng hót để làm vui cho đời; cành hoa điểm sắc để tô thắm cho mùa xuân; một nốt trầm trong muôn nốt nhạc góp vào bản hòa ca muôn điệu. Đó là những hình ảnh hết sức giản dị, nhỏ bé song vô cùng tinh túy đã cho thấy ước nguyện khiêm nhường mà cao quý của thi nhân.

+ Những hình ảnh này có sự đối ứng chặt chẽ với những hình ảnh mở đầu của bài thơ để khẳng định một lẽ tự nhiên, tất yếu: con chim sinh ra là để dâng tiếng hót cho đời; bông hoa sinh ra là để tỏa hương sắc; bản hòa ca tưng bừng, rộn rã song không thể thiếu nốt trầm xao xuyến.

+ Gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người và đất nước.

=> Không to tát, không ồn ào, ước nguyện của thi nhân cũng giống như ước nguyện của anh thanh niên trên đỉnh núi Sa Pa cao hơn hai nghìn bảy trăm mét trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Họ là những con người có lối sống giản dị, không phô trương, thâm trầm nhưng sâu sắc. Một lần nữa ta như động lòng trước một “Tấm lòng sứ điệp” nơi nhà thơ.

=> Cống hiến cho đời, cho đất nước là một lẽ sống tốt đẹp mà Thanh Hải luôn theo đuổi.

Bài tập: Trong phần đầu bài thơ, tác giả dùng đại từ “tôi”, sang phần sau lại dùng đại từ “ta”. Em hiểu như thế nào về sự chuyển đổi đại từ nhân xưng ấy của chủ thể trữ tình?

Từ cái khát vọng sống cao quý, tác giả đã nâng lên thành một lí tưởng sống cao cả:

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc

– Tác giả xin được làm một “mùa xuân nho nhỏ” để góp phần làm đẹp cho mùa xuân lớn của dân tộc. Hình ảnh “một mùa xuân nho nhỏ” gợi một mùa xuân cụ thể, đẹp đẽ, xinh xắn đồng thời cũng là một ẩn dụ, biểu lộ một lẽ sống cao đẹp, sống một cuộc đời đẹp như những mùa xuân và dâng hiến cho đời những gì đẹp đẽ nhất của mình. Đây chính là một hình ảnh ẩn dụ đặc sắc của nhà thơ Thanh Hải, thể hiện một ước nguyện chân thành và khiêm tốn.

– Từ láy “ nho nhỏ”:

+ Thể hiện ước muốn, khát vọng khiêm tốn và giản dị của nhà thơ.

+ Gợi về những gì đẹp đẽ và tinh túy nhất của cuộc đời con người để góp cho mùa xuân đất nước.

Sử dụng phép đảo ngữ, nhấn mạnh vào tính từ “lặng lẽ” đã cho thấy vẻ đẹp của một tâm hồn, lối sống và nhân cách. Mùa xuân của Thanh Hải không hề ồn ào, khoa trương, náo nhiệt mà lặng lẽ hiến dâng. Dâng cho đời là dâng một cách tự nguyện, không đòi hỏi sự đền đáp. Đó chính là lối sống, cống hiến đẹp đẽ, vô tư, trong sáng nhất mà con người cần hướng tới.

Điệp cấu trúc ngữ phápDù là… Dù là…” và hình ảnh tương phảntuổi hai mươi” và “khi tóc bạc” khiến cho lời thơ như một lời hứa, lời tự nhủ với mình.

+ “Tuổi hai mươi” là tuổi thanh xuân đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người.

+ “Khi tóc bạc” là độ tuổi khi con người đã già yếu.

=> Cống hiến từ “tuổi hai mươi” đến “khi tóc bạc” tức là cống hiến hết cả một cuộc đời. Thanh Hải muốn khẳng định sự tồn tại bền vững của những khát vọng sống, lí tưởng sống là cống hiến, hy sinh.

=> Lời tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình, một cuộc đời thật đẹp xứng đáng để chúng ta suy ngẫm, học tập và noi theo.

Bài thơ khép lại trong giai điệu ngọt ngào, êm dịu của dân ca trữ tình xứ Huế:

Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế

– Mở đầu bài thơ là âm thanh tiếng hót chim chiền chiện và kết thúc bài thơ là âm thanh của tiếng hát: “Mùa xuân ta xin hát”, tạo nên âm hưởng vang mãi.

– “Khúc Nam ai” khúc nhạc buồn thương, da diết để gợi con đường đầy hi sinh, gian khổ mà đất nước đã đi qua.

“Khúc Nam bình” khúc nhạc êm ái, dịu ngọt để gợi mùa xuân hiện tại với cuộc sống thanh bình, no ấm.

– Phách tiền là một loại nhạc cụ dân gian được chế tác đơn giản bằng những thanh gỗ có gắn những đồng tiền, thường tấu lên nhạc điệu nhịp nhàng, rộn rã cho những bài ca Huế tươi vui.

“Nhịp phách tiền” điệu nhạc rộn ràng để khép lại bài thơ, đó là giai điệu của cuộc sống mới, sức sống mới của dân tộc.

– Dường như những âm điệu buồn vui rất đặc trưng Huế ấy đã “ăn” vào máu thịt, luôn thường trực và ám ảnh nhà thơ. Mùa xuân đất Huế đã khơi dậy cảm hứng trào dâng bật lên thành tiếng hát tha thiết và sâu nặng tình yêu quê hương.

=> Như vậy, xuyên suốt bài thơ là một bài ca không dứt. Phải yêu đời, lạc quan lắm mới có thể hát lên trong hoàn cảnh nhà thơ lúc đó. Rõ ràng, tình yêu đời, yêu cuộc sống trỗi dậy thật mãnh liệt, trở thành khúc hát tâm tình trong những dòng thơ cuối. Khúc hát đó thật cảm động, cao quý và đáng trân trọng biết bao.

III. Tổng kết

1. Nội dung

Mùa xuân nho nhỏ, tác giả đã tái hiện thành công vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất nước. Qua đó bày tỏ lẽ sống cao đẹp, là sẵn sàng dâng hiến cuộc đời mình cho đất nước.

2. Nghệ thuật

– Bài thơ Mùa xuân nhỏ nhỏ được viết theo thể thơ năm chữ, cách gieo vần liền giữa các khổ thơ đã tạo ra sự liền mạch của cảm xúc.

– Ngôn ngữ và hình ảnh thơ giản dị, trong sáng, giàu sức gợi.

– Cảm xúc rất đỗi chân thành, tha thiết, cho nên bài thơ trở là lòng của nhà thơ Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời.

Bài tập: Em biết những bài thơ nào về mùa xuân trong thơ ca Việt Nam? Hãy ghi lại một số câu thơ hay trong những bài thơ ấy. Nhận xét về sự sáng tạo của Thanh Hải trong hình ảnh Mùa xuân nhơ nhỏ: Mưa xuân – Nguyễn Bính.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”

Làm chủ kiến thức ngữ văn 9 – Luyện thi vào 10

Tác giả: Phạm Trung Tình