Tìm hiểu văn bản: Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng

715

I. Những nét chính về tác giả -tác phẩm

1. Tác giả

– Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014), quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

– Ông là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.

– Nguyễn Quang Sáng bắt đầu “cầm bút” từ những năm 1952 và thử sức mình trên nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kí,…

– Ông sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường Nam Bộ. Vì thế sáng tác của ông xoay quanh con người, cuộc sống vùng Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến và sau hòa bình.

Phong cách sáng tác: Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng là lối viết chân chất, mộc mạc, bình dị cộng với giọng văn đậm chất Nam Bộ…

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

– Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966. Đây là giai đoạn mà cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt và tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ.

– Truyện được in trong tập truyện ngắn cùng tên.

b. Ý nghĩa nhan đề

Chiếc lược ngà” là hình ảnh, chi tiết trung tâm của tác phẩm, gắn kết cuộc đời tính cách của các nhân vật và góp phần khắc họa sâu dung nội truyện.

– Với bé Thu, chiếc lược ngà là ước mơ, là món quà đầu tiên và cũng là kỉ vật cuối cùng của người cha. Bởi vậy, chiếc lược ngà là kỉ vật, hình ảnh của người cha.

– Với ông Sáu, chiếc lược ngà không chỉ là món quà ông dành tặng con mà còn là hình bóng của cô con gái yêu quý. Bởi vậy, chiếc lược ngà là tất cả tình  thương, nỗi nhớ ông gửi gắm cho cô con gái bé bỏng.

– Với bác Ba, chiếc lược ngà là sự trao gửi thiêng liêng giữa người cán bộ cách mạng với đứa con gái của người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường.

– Với hai cha con ông Sáu, chiếc lược ngà là biểu tượng thiêng liêng bất diệt và cầu nối tình cảm sâu nặng của hai cha con.

c. Tóm tắt tác phẩm

Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi mới có dịp về thăm nhà với hi vọng gặp lại đứa con sau tám năm xa cách, chưa hề một lần gặp mặt. Mấy ngày đầu bé Thu không nhận ra ba do vết thẹo trên mặt làm ông không giống với người cha chụp chung bức hình với má mà em biết. Em bướng bỉnh và đối xử với ông Sáu như một người xa lạ.

Nghe bà ngoại kể, bé Thu nhận đã cha và tình cảm cha con đã thức dậy một cách mãnh liệt. Song đó cũng là lúc ông Sáu phải trở lại chiến khu. Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình thương, nỗi nhớ vào việc làm một chiếc lược ngà để tặng con. Nhưng chưa kịp tặng thì ông đã hi sinh trong một trận càn. Lúc hấp hối, ông đã nhờ đồng đội chuyển chiếc lược ngà cho con gái.

II. Trọng tâm kiến thức

1. Tình huống truyện đặc sắc

– Tác giả đã xây dựng hai tình huống truyện đặc sắc:

+ Cuộc gặp gỡ của hai cha con ông Sáu sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra ông Sáu là ba. Đến lúc em nhận ra thì ông Sáu lại phải lên đường trở về đơn vị. Tình huống này đã bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với ba.

+ Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tất cả tình thương, nỗi nhớ và cả sự hi vọng vào việc làm một chiếc lược ngà để tặng con. Nhưng chưa kịp tặng con thì ông đã hi sinh trong một trận càn. Trong lúc hấp hối ông đã nhờ đồng đội chuyển chiếc lược ngà cho con. Tình huống này bộc lộ tình cảm thắm thiết của ông Sáu dành cho con.

– Ý nghĩa của tình huống truyện:

+ Tình huống truyện kịch tính, chứa nhiều yếu tố bất ngờ tạo nên nghệ thuật thắt nút. Từ đó, thể hiện tình cảm cha con thiêng liêng, sâu nặng.

+ Đặt nhân vật vào những tình huống éo le để những tình cảm cha con được đẩy lên đến cao trào. Qua đó, tác giả muốn khẳng định một điều hết sức thiêng liêng: Tình cảm cha con là bất tử mà không một súng đạn nào có thể chia cắt được.

chiếc lược ngà

2. Nhân vật bé Thu

a. Trước khi bé Thu nhận ông Sáu là ba

– Thu là một người thương cha đến vô cùng. Hơn ai hết, cô luôn mong cái ngày được gặp cha để được vỗ về, chở che. Bởi thế, cuộc gặp gỡ sau tám năm xa cách những tưởng hai cha con sẽ vỡ òa trong niềm hạnh phúc thì trớ trêu thay bé Thu lại bộc lộ một thái độ bất thường.

+ Trước sự xúc động, vồ vập của ông Sáu, cô bé từ ngạc nhiên đến hốt hoảng: “tròn xoe mắt”, mặt tái đi, vụt chạy và thét lên để gọi má cầu cứu.

+ Trong suốt ba ngày phép, khi ông Sáu càng dồn hết tình cảm để bù đắp cho Thu thì cô bé lại càng lạnh nhạt, xa cách, thậm chí tỏ ra ngang ngạnh, bướng bỉnh.

+ Cô bé kiên quyết không gọi ông Sáu một tiếng ba: Nói trống không với ông Sáu (vô ăn cơm; cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái). Trong lúc khó khăn, nguy cấp khi phải chắt nước một nồi cơm to, nặng quá sức thì cô bé vẫn loay hoay, tự xoay sở.

+ Cô bé từ chối mọi sự vỗ về, chăm sóc của ông Sáu: Trong bữa cơm, ông Sáu gắp cho nó miếng trứng cá thì nó hất ra khiến cơm bắn tung tóe,… Chi tiết này đã đẩy câu chuyện lên đỉnh điểm của kịch tính.

+ Khi bị trách phạt, phản ứng lại hành động của ông Sáu, cô bé đã ngay lập tức bỏ về nhà bà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua dây lòi tói cho kêu rổn rảng thật to.

– Nguyên nhân

+ Gián tiếp: Bé Thu sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước đang chiến tranh. Bởi vậy, suốt tám năm cô bé chỉ biết mặt ba qua một tấm hình ba chụp chung với má.

+ Trực tiếp: Ngày gặp gỡ, vết thẹo trên mặt ông Sáu đã khiến cho gương mặt ông khác lạ so với hình ảnh người ba trong hình và tâm trí của cô bé.

+ Do cô bé rất yêu ba, muốn bảo vệ hình ảnh người ba của mình, không cho phép người lạ mặt kia có quyền mạo nhận.

=> Sự ngang ngạnh, bướng bỉnh của bé Thu không hề đáng trách. Phản ứng tâm lí của cô bé là hoàn toàn tự nhiên. Bởi sinh ra trong hoàn cảnh chiến tranh, cô bé còn quá nhỏ để hiểu được những khắc nghiệt, éo le. Và người lớn cũng không ai chuẩn bị tâm lí cho em đón nhận những điều bất thường.

=> Miêu tả thái độ, hành động bất thường của cô bé, tác giả đã tái hiện hoàn cảnh éo le trong chiến tranh; đồng thời khắc họa được một cô bé  bướng bỉnh, gan góc, cá tính đến kỳ lạ.

b. Khi bé Thu nhận ông Sáu là ba

– Sau khi nghe bà ngoại giải thích, bé Thu trở về nhà đúng vào buổi sáng ông Sáu phải lên đường về đơn vị. Cô bé đã đột ngột thay đổi trong sự ngỡ ngàng của ông Sáu và mọi người.

+ Không còn ngang ngạnh, cau có, cố chấp mà thay vào đó là khuôn mặt “sầm lại buồn rầu” và “nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”.

+ Khi cô bé bắt gặp cái nhìn trìu mến và buồn rầu của ba thì “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”.

+ Khi ông Sáu khẽ cất lời từ biệt thì cô bé mới chịu kêu ba một tiếng đến xé lòng: “Ba… a… a… ba”.

+ Cô bé chạy xô lại ôm chặt lấy ba mình, hôn ba và hôn lên cả cái vết thẹo dài trên má.

+ Cô bé cất lời giữ ba ở nhà: “Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con”. Đây mà một ước mơ rất thực, nó phản chiếu tình cảm gắn bó của bé Thu dành cho ba.

+ Cô chia tay ba với ao ước được ba mua cho cây lược ngà. Cho thấy cô muốn có vật  kỉ niệm của ba để được thấy ba luôn bên mình.

=> Trong khoảnh khắc chia li, mọi khoảng cách đã bị xóa bỏ, bé Thu không che giấu sự gắn bó và tình cảm của mình dành cho ba.

=> Miêu tả những biến đổi tình cảm của bé Thu, tác giả đã một lần nữa tô đậm tình yêu thương ba của cô bé. Qua đó, ta thấy bé Thu bướng bỉnh, gan góc nhưng cũng rất giàu tình cảm.

chiếc lược ngà

3. Nhân vật ông Sáu

a. Trong ba ngày về phép thăm nhà

– Trở về sau tám năm xa cách, bao nỗi nhớ thương khiến ông Sáu xúc động mãnh liệt.

+ Nôn nao trong lòng, không ghìm được xúc động khiến vết thẹo trên má đỏ ửng, giật giật, trông dễ sợ.

+ Ông háo hức, vội vã như không thể ghìm thêm giây phút nào: “không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra… vội vàng với những bước chân dài”.

+ Ông kêu to hai tiếng thiêng liêng, thèm khát được gọi, được nghe bấy lâu nay: “Thu! Con”.

– Trước thái độ bất thường của con, ông rơi vào tâm trạng đau đớn, tủi hổ đến vô cùng: “anh đứng sững lại đó, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

=> Những từ miêu tả “đứng sững lại”, “mặt anh sầm lại” và “tay buông xuống như bị gãy” đã diễn tả được nỗi đau dường như quá lớn, quá sức chịu đựng với ông Sáu.

– Trong ba ngày phép, ông Sáu làm mọi cách để bé Thu thay đổi, kiên nhẫn chờ đợi tình cảm ở con.

+ Ông không đi đâu xa, mà luôn gần gũi, “lúc nào cũng vỗ về con”. Ông muốn bù đắp cho con suốt tám năm trời xa cách.

+ Ông không trách giận mà chỉ khe khẽ lắc đầu cười trước sự bướng bỉnh của con bé.

+ Thậm chí khi con bé từ chối một cách quyết liệt sự chăm sóc của ông, ông đau đớn đến độ không giữ được bình tĩnh mà đánh con một cái.

=> Ông vô cùng dịu dàng, kiên nhẫn, khoan dung với con.

– Khi chia tay thì tình cảm cha con sâu nặng đã được bộc lộ rất xúc động:

+ Ông không dám lại gần con bé, “chỉ đứng nhìn nó,… với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu” cố gắng kìm giữ cái khát vọng được ôm con vào lòng.

+ Khi con bé nhận ông, ông “ghìm được xúc động và không muốn cho con nhìn thấy mình khóc, một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con”. Ông không muốn con bé trông thấy những giọt nước mắt yếu đuối của mình, đó cũng là những giọt nước mắt hạnh phúc ứa ra từ nỗi xúc động và thương con sâu sắc.

+ Ông hứa với con bé sẽ trở về với chiếc lược ngà tặng con.

=> Tác giả đã tái hiện được tình cảm yêu thương con sâu sắc của ông Sáu, nó đã chiến thắng sự tàn bạo của chiến tranh, chiến thắng mọi biệt li, cách trở. Tình cảm ấy luôn vẹn nguyên, ấm áp và tràn đầy.

b. Khi ông Sáu trở lại chiến trường

– Ông luôn ân hận, khổ tâm vì nỡ trách phạt con.

– Ông dồn tất cả tình yêu và nỗi nhớ vào việc làm chiếc lược ngà tặng con.

+ Khi kiếm được khúc ngà, ông không gìm được xúc động, đã “hớn hở như một đứa trẻ được quà”.

+ Ông cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc.

+ Ông “tẩn mẩm” khắc từng nét chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

+ Những lúc nhớ con, ông lại mang cây lược ra ngắm và mài lên mái tóc cho cây lược thêm bóng.

=> Ông Sáu đã dồn tất cả tình cảm của mình dành cho con vào việc làm chiếc lược ngà, dẫu cây lược đó chưa lần nào được chải trên mái tóc của bé Thu nhưng đã phần nào gỡ rối những mối tơ lòng, vơi đi nỗi dày vò ân hận và nuôi dưỡng khát vọng đoàn viên.

– Thậm chí, cái chết cũng không lấy đi được tình yêu con của ông Sáu.

+ Trong một trận càn, vết thương đã khiến ông kiệt sức, vậy mà ông vẫn dốc hết tàn lực, trao cây lược ngà cho đồng đội mang về cho bé Thu. Trong giây phút ấy, ông ủy thác, gửi gắm tất cả tình yêu, nỗi nhớ của mình qua ánh mắt.

+ Cây lược được trao tận tay cho bé Thu, điều đó cho thấy tình cha con đã không hề chết mà trở thành điểm tựa để nâng đỡ bé Thu trưởng thành.

=> Ông Sáu trở thành một biểu tượng đẹp cho tình yêu thương; sự ân cần và che trở của người cha dành cho con mình, qua đó ta thấy được sự bất tử của tình cảm cha con.

III. Tổng kết

1. Nội dung

– Truyện ngắn Chiếc lược ngà tái hiện thành công tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Lên án sự tàn bạo của chiến tranh, qua đó cho thấy bi kịch, tình cảm đẹp của con người trong chiến tranh.

2. Nghệ thuật

– Xây dựng được tình huống truyện éo le mà độc đáo.

– Ngòi bút phân tích tâm lí nhân vật.

– Lối kể chuyện tự nhiên, giàu cảm xúc.

– Sáng tạo được những hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi.

Làm chủ kiến thức Ngữ văn 9 – Luyện thi vào 10

Tác giả: Phạm Trung Tình