Tìm hiểu văn bản: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Nguyễn Huy Tưởng

60

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) quê ở Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội), ông là nhà văn có thiên hướng khai thác các đề tài lịch sử và có nhiều đóng góp trong lĩnh vực tiểu thuyết và kịch.

– Năm 1996, ông được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Tác phẩm tiêu biểu gồm: Vũ Như Tô, Bắc Sơn (kịch); Đêm hội Long Trì, Sống mãi với Thủ đô (tiểu thuyết)

2. Tác phẩm

a. Vị trí đoạn trích

Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử 5 hồi viết về sự kiện xảy ra ở Thăng Long vào khoảng thời gian (1516 – 1517) dưới triều vua Lê Tương Dực. Tác phẩm được sáng tác vào năm 1941 với ba hồi và đăng trên tạp chí Tri Tân, sau đó được tác giả sửa lại thành năm hồi.

b. Tóm tắt đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài

Vở kịch gồm năm hồi, viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517.
Nhân vật chính của vở kịch là Vũ Như Tô, là một nhà kiến trúc tài giỏi, một nghệ sĩ có chí lớn, tính tình cương trực, trọng nghĩa kinh tài. Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa, sai Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng đài để làm nơi ăn chơi với đám cung nữ. Vũ đã từ chối dù bị đe doạ kết tội tử hình. Song Đan Thiềm, một cung nữ tài sắc nhưng đã bị ruồng bỏ, đã khuyên Vũ nên nhận lời xây dựng Cửu Tràng đài vì đây là cơ hội để Vũ đem tài ra phục vụ đất nước, “Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi, nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện…”. Vũ đã nhận lời và dồn hết sức xây Cửu Trùng đài. Nhưng Cửu Trùng đài đã làm cho dân chúng thêm cực khổ. Họ đã nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết, Cửu trùng đài bị thiêu trụi.

II. Trọng tâm kiến thức

1. Các xung đột kịch trong đoạn trích

+ Mâu thuẫn 1: Tình huống kịch xảy ra trong hồi V xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa cùng các phe cánh của chúng.

– Qúa trình phát triển của mâu thuẫn này đã chỉ ra tính tất yếu của hồi V:

+ Mục đích xây Cửu Trùng Đài nguy nga tráng lệ để ăn chơi hưởng lạc .

+ Nguyên liệu và công sức để xây Cửu Trùng Đài, là tiền bạc, của cải mà vua đã ra sức bắt thuế, tróc thợ từ dân lành, làm cho nhân dân vất vả, đói khát, chết vì bệnh dịch, tai nạn.

=>Tương Dực không phải là một ông vua yêu nước, thương dân. Điều này tất yếu dẫn đến “loạn” và “biến”.

– Kết quả: hôn quân bị giết, hoàng hậu nhảy vào lửa… Cửu Trùng Đài hiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê Tương Dực bị đốt thành tro.

+ Vũ Như Tô coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác và phần hồn của cuộc đời mình (vì đây là công trình nghệ thuật tô điểm cho vẻ đẹp của đất nước) .

=>Vì nó, Ông sẵn sàng chấp nhận làm việc cho hôn quân bạo chúa; dù bị thương vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc; trị tội những thợ bỏ trốn.

+ Mâu thuẫn 2: Giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.

– Ngược lại trong mắt dân chúng, Cửu Trùng Đài là hiện thân của sự ăn chơi xa xỉ, hiện thân của tội ác cha đẻ của nó – Vũ Như Tô – chính là kẻ thù của họ cần phải bị trị tội

=> Họ vui mừng khi Cửu Trùng Đài cháy, Vũ Như Tô ra pháp trường.

– Vũ Như Tô chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ thuần tuý, hết mình phụng sự cái đẹp.

– Ông không đứng về phía Lê Tương Dực, nhưng lại muốn mượn uy quyền, tiền bạc của hắn để thực hiện hoài bão nghệ thuật của mình.

– Nhưng lợi ích nghệ thuật mà Vũ Như Tô theo đuổi đã mâu thuẫn với thực tế đời sống của nhân dân.

=> Kết thúc trên chỉ ra tính bi kịch không thể điều hoà của mâu thuẫn.

2. Nhân vật Vũ Như Tô

– Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân cho niềm khao khát, say mê sáng tạo cái đẹp.

+ Là người ngàn năm dễ có một… có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây lâu đài cap cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ… chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công.

=> Qua vài lời của tác giả, ta thấy Vũ Như Tô là một nghệ sĩ lớn mang trong mình nhân cách cao đẹp, một nghệ sĩ có hoài bão lớn lao, có lý tưởng nghệ thuật cao cả.

+ Khát vọng nghệ thuật của ông lớn lao hơn bao giờ hết, ông muốn xây dựng một tòa lâu đài vĩ đại bền như trăng sao để cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện. Đó là công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mỹ, tô điểm cho non sông đất nước: để ta xây dựng một Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn thành, cao cả huy hoàng, giữa cõi trần lao lực có một cảnh Bồng Lai… Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài.

+ Tuy nhiên, Cửu Trùng Đài lại là hiện thân cho cái đẹp xa hoa. Nhưng trong một hoàn cảnh cụ thể, cái đẹp ấy thành ra phù phiếm, nó sang trọng, siêu đẳng, thậm chí, cao cả và đẫm máu như một bông hóa ác. Vì thế, đi tận cùng niềm đam mê, khao khát ấy Vũ Như Tô tất phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình. Chàng trở thành kẻ thù của dân chúng, thợ thuyền mà không hay biết.

– Vũ Như Tô là người có nhân cách lớn, có lý tưởng nghệ thuật cao cả: Người quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn vật có chết, thì cũng để cho mọi người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả đây.

– Vũ Như Tô rơi vào bi kịch vỡ mộng trước thực tế khắc nghiệt:

+ Nhưng chính vì qua đam mê khao khát đắm chìm trong sáng tạo mà Vũ Như Tô càng dễ xa rời thực tế đời sống; càng sáng suốt trong sáng tạo nghệ thuật thì càng mê muội trong những toan tính âu lo đời thường. Hồi thứ V không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chỉ duy nhất có Đan Thiền nhắc đến), mà đặt ông vào việc tìm kiếm một câu trả lời: Xây Đài Cửu Trùng là đúng hay sai? Có công hay có tội? Nhưng Vũ không trả lời được thỏa đáng câu hỏi đó bởi chàng chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân, trên lập trường cái đẹp mà không đứng trên lập trường cái thiện. Hành động của Vũ không hướng đến sự hòa giải mà thách thức và chấp nhận sự hủy diệt.

+ Vũ Như Tô không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng, ảo vọng của chính mình. Chàng không thể tin rằng cái việc cao cả mình làm lại có thể bị xem là tội ác, cũng như không thể tin  sự quang minh chính đại của mình lại bị rẻ rung, nghi ngờ. Sự vỡ mộng của Vũ Như Tô vì thế đau đớn, kinh hoàng gấp bội so với Đan Thiền. Nỗi đau ấy bộc lộ thành tiếng kêu bi thiết mà âm điệu não nùng, khắc khoải của nó thành âm hưởng chủ đạo bao trùm đoạn kết đã đành mà còn thành một thứ chủ âm dội ngược lên toàn bộ những phần trước của vở kịch, ôi mộng lớn! ôi Đan Thiền! Ôi Cửu Trùng Đài.

– Bi kịch của Vũ Như Tô đã thức tỉnh ý thức của chúng ta về vấn đề muôn thuở: Mối quan hệ giữa nghệ thuật vị nghệ thuật – nghệ thuật vị nhân sinh thì nghệ thuật mới tồn tại và được nhân dân tôn thờ, nâng niu, bảo vệ.

+ Là một nghệ sĩ đầy tài năng và giàu sáng tạo, Vũ Như Tô muốn khẳng định tài năng của mình, muốn tô điểm cho đất nước, muốn làm đẹp cho đời, nhưng khát vọng nghệ thuật và đam mê sáng tạo của ông đã đặt lầm nơi lạc chốn, lạc điệu với thời thế, xa rời thực tế, nên đã phải trả giá bằng chính sinh mệnh của bản thân và của cả công trình thấm đã mồ hôi tâm não của mình.

+ Người đọc, người xem thương cho người nghệ sĩ có tài, có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sang hy sinh tất cả cho cái đẹp nhưng xa rời thực tế, mà phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật đầy tâm huyết sáng tạo của mình.

=> Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực tế đời sống nhân dân. Vì vậy, vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước sang thiên niên kỉ mới, nó vẫn còn nguyên giá trị.

=> Đoạn trích đã thể hiện một ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao. Cách dẫn dắt các xung đột kịch thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật thông qua ngôn ngữ và hành động rất thành công. Các lớp kịch ngắn, thay đổi liên tục, lời thoại gấp gáp, các tiếng reo, tiếng thét… tạo một không gian bạo lực kinh hoàng đến chóng mặt. Việc đặt nhân vật trong không gian cung cấm với các tên đất, tên người cụ thể ít nhiều có yếu tố sử sách làm cho vở kịch hoành tráng, có không khí lịch sử.

3. Nhân vật Đan Thiềm

– Đan Thiềm là một cung nữ nhưng lại có “bệnh” đam mê , trân trọng, nâng niu cái đẹp, cái tài của Vũ Như Tô – một kiến trúc sư biết sáng tạo cái đẹp.

– Vì mê đắm cái tài mà Đan Thiềm không quản ngại những điều thị phi, quên cả nguy hiểm của bản thân để bảo vệ Vũ Như Tô.

=> Đan Thiềm là một người biết “biệt nhỡn liên tài”.

+ Đan Thiềm là người khuyên Vũ Như Tô ở lại để xây Cửu Trùng Đài (ở hồi 1), nhưng khi có biến lại tìm mọi cách thuyết phục ông trốn đi.

=> Cả 2 lời khuyên này đều “có ý nghĩa” duy nhất: bảo vệ cái tài, cái đẹp ( “khi trước trốn đi thì ông nguy, bây giờ trốn đi thì ông thoát chết”).

=> Đan Thiềm là một người không mơ mộng mà tỉnh táo, thức thời, hiểu đời, hiểu người (đây là điểm khác biệt giữa nàng và Vũ Như Tô).

– Tâm trạng của Đan Thiềm khi nhận ra thất bại của giấc mộng Cửu Trùng Đài:

+ Nàng đau đớn khi nghĩ đến sự sống chết của Vũ Như Tô.

+ Có đến 20 lần nàng thúc giục Vũ Như Tô: “ trốn đi, lánh đi, đi đi, chạy đi”.

+ Lời thúc giục vừa van xin, vừa khẩn thiết, quyết liệt: “ Ông nghe tôi ! …. Đợi thời là thượng sách ! Đừng để phí tài trời. Trốn đi !”

+ Có đến 4 lần nàng nhắc lại yêu cầu khẩn thiết đó. + Nàng sẵn sàng lấy tính mạng của mình để đánh đổi sự sống còn của Vũ Như Tô “Đừng giết ông Cả . Kẻo tướng quân mang hận về muôn đời. Tha cho ông Cả. Tôi xin chịu chết”.

+ Đến khi “có trốn cũng không được nữa”, Đan Thiềm tìm mọi cách van xin tha tội cho Vũ Như Tô.

+ “Ông Cả! Đài lớn tanh tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”. + “ Xin cùng ông vĩnh biệt”.

+ Kết thúc lớp kịch thứ VII, chỉ còn tiếng kêu thảng thốt, đau đớn, nghẹn ngào, nức nở của Đan Thiềm.

+ Những đổ vỡ của một giấc mộng lớn bây giờ thật tan hoang : ông cả, Đài lớn, cái tài, cái đẹp, tất cả đền tan tành trong cơn biến loạn.

=> Mọi cố gắng giữ gìn, bảo vệ không thành. Câu nói cuối cùng của Đan Thiềm là lời vĩnh biệt mãi mãi Cửu Trùng Đài – vĩnh biệt một giấc mộng lớn trong máu và nước mắt.

III. Tổng kết

1. Nội dung

– Vở kịch phản ánh mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật thuần túy của Vũ Như Tô với lợi ích thiết thực của nhân dân.

– Qua việc xây dựng các tính cách bi kịch ( Vũ Như Tô, Đan Thiềm),Tác giả muốn gửi đến người đọc, người xem những bài học, tư tưởng, quan niệm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống: Nghệ thuật vị nhân sinh nghệ thuật phản ánh cuộc sống, khát vọng của người nghệ sĩ phải phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi, lợi ích của cộng đồng, của nhân dân.

– Tác giả cũng bày tỏ sự cảm thông , trân trọng đối với nhwungx nghệ sĩ có tài năng, hoài bão lớn nhưng lâm vào mâu thuẫn, bi kịch giwuax lí tưởng và thực tế.

2. Nghệ thuật

– Đoạn trích thể hiện kết cấu của một vở kịch: biến cố, xung đột và giải quyết xung đột, sự kiện.

– Không khí,nhịp điệu của sự việc được diễn tả theo chiều tăng tiến, mức độ dồn dập đã thể hiện được tính chất gay gắt của mâu thuẫn và đẩy xung đột kịch lên cao trào.Nhà văn đã tạo nên không khí kịch thông qua lời thoại, tình huống đầy kịch tính