Tìm hiểu văn bản: Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu

7

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), quê ở Nghệ An. Là nhà văn quân đội, suốt cuộc đời cầm bút luôn trăn trở về số phận của nhân dân và trách nhiệm của nhà văn. Là người mở đường tinh anh và tài năng (Nguyên Ngọc) của nền văn học Việt Nam thời kì đổi mới (sau 1975).

– Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với tấm Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Khánh tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan lục quân Trần Quốc Tuấn.

– Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu của tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi.

– Phong cách sáng tác: Từ cảm hứng lãng mạn – sử thi đến tự sự – triết lí, ngôn ngữ dung dị và những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc sống và nghệ thuật.

– Tác phẩm chính: Cửa sông (1967), Dấu chân người lính (1972), Chiếc thuyền ngoài xa (1983), Bến quê (1985), Cỏ lau (1989),…

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1983 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua được 6 năm, đất nước trở lại với cuộc sống đời thường. Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa nhân sinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra. 
Tác phẩm nằm trong xu hướng nghệ thuật chung của văn học thời kỳ đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người đời thường.

b. Tóm tắt tác phẩm

Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi anh đã từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã kinh ngạc hết mức khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh một gã chồng vũ phu đánh đập người vợ hết sức dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình. Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp… Theo lời mời của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng), người đàn bà hàng chài đã đến toà án huyện. Tại đây, người phụ nữ ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ ấy bước ra từ bức tranh.

c. Ý nghĩa nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa

– Chiếc thuyền ngoài xa trước hết là biểu tượng của nghệ thụât, đó là thứ nghệ thụât đạt tới sự toàn mĩ và thánh thiện đến mức mà chiêm ngưỡng nó, người nghệ sĩ thấy tâm hồn mình được thanh lọc. 
– Chiếc thuyền khi về gần đó lại là hiện thân của cuộc đời lam lũ, khó nhọc, thậm chí của những éo le, trái ngang và nghịch lí trong cuộc sống.
– Như vậy, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa nhưng cuộc đời thì lại rất gần. Người nghệ sĩ cần có một khoảng cách nhất định để khám phá và thưởng thức vẻ đẹp đích thực của nghệ thụât nhưng lại cũng cần bám sát cuộc đời để phát hiện ra những sự thật của cuộc sống. 
– Nhan đề là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật!

II. Trọng tâm kiến thức

1. Hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng

– Phát hiện thứ nhất: Bức danh họa mực Tàu thời cổ điển – vẻ đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh: Đó là bức ảnh chiếc thuyền ngoài xa, một cảnh đắt trời cho, một bức họa kì diệu mà thiên nhiên ban tặng cho người nghệ sĩ sau nhiều ngày phục kích.:

+ Bức tranh ấy ghi lại cảnh bình minh trên biển với hình ảnh một chiếc thuyền lưới vó từ từ cập bến: Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào; vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mũi khum khum, đang hướng mặt vào bờ.

+ Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích.

=> Thiên nhiên mang vẻ đẹp mỹ lệ, khoáng đạt của một vùng phá nước mênh mông, trên nền bức tranh thiên nhiên, hình ảnh con người hiện lên làm cho bức tranh sống động và có hồn hơn.

– Cảm nhận của người nghệ sĩ:

+ Đứng trước tuyệt tác của hóa công, người nghệ sĩ trở nên bối rối và xúc động mãnh liệt trong trái tim như có cái gì bóp chặt vào. Tâm hồn anh rung động thực sự, cảm xúc thẩm mĩ dâng trào.

+ Phùng khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn và bản thân cái đẹp chính là đạo đức. Cái đẹp có sức mạnh kì diệu, có thể thanh lọc tâm hồn con người, cái đẹp luôn đi liền với cái chân và cái thiện.

+ Trong khoảnh khắc ấy, anh bấm máy liên tục để thu lại cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh mang lại.

– Ý nghĩa:

+ Niềm hạnh phúc tột đỉnh của người nghệ sĩ chân chính là khám phá và sáng tạo nghệ thuật, cảm nhận được cái đẹp tuyệt diệu của cuộc sống.

+ Nghệ thuật chân chính chỉ có thể tạo nên từ lao động nghệ thuật nghiêm túc, kiên trì và lòng say mê, nhiệt huyết của người nghệ sĩ.

+ Phùng là một nghệ sĩ tài hoa, tâm hồn nhạy cảm, tràn đầy đam mê và tâm huyết với nghệ thuật.

– Phát hiện thứ hai là hiện thực cuộc sống đầy bất ngờ và nghịch lí của một gia đình ngư phủ: Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là đôi vợ chồng thuyền chài.

+ Người vợ xấu xí, mệt mỏi trạc ngoài bốn mươi tuổi, thân hình cao lớn và những đường nét thô kệch, rỗ mặt, lưng áo bạc phếch và rách rưới, khuôn mặt mệt mỏi, tái ngắt và buồn ngủ. Chị ta là hiện thân của sự nghèo khổ, lam lũ, vất vả, cam chịu.

+ Người chồng to lớn, đầy dữ dằn với tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền, mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt độc dữ. Cuộc sống đói nghèo, lam lũ in hằn trên dáng vẻ khắc khổ của người đàn ông này.

– Nghệ sĩ Phùng chứng kiến một cảnh tượng vô cùng tàn nhẫn:

+ Người chồng tức giận, thẳng tay đánh vợ không thương tiếc. Lão ta hùng hổ, mặt đỏ gay, rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa quật tới tấp vào lưng người đàn bà. Hắn vừa trút cơn giận như lửa cháy, vừa thở hồng hộc, nghiến răng ken két. Hắn nguyền rủa bằng giọng rên rỉ, đau đớn: Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ. Trông hắn chẳng khác gì một gã đàn ông vũ phu, thô bạo.

+ Còn người vợ nhẫn nhục, chịu đựng đầy tội nghiệp. Chị ta không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm chạy chạy trốn. Khi thấy đứa con đánh lại cha nó, chị vái lấy vái để thằng bé, rồi lại ôm chầm lấy nó, nước mắt lăn dài đầy đau khổ. Người đàn bà khốn khổ ấy vì thương con nên chị sợ cảnh tượng đau lòng ấy làm tổn thương tâm hồn đứa trẻ.

+ Đứa con trai (thằng Phác) vì thương mẹ đã đánh lại cha để rồi nhận lấy hai cái tát ngã dúi xuống cát. Rồi trước nỗi đau khổ của người mẹ, nó lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ để lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những vết rỗ chằng chịt.

– Cảm nhận của người nghệ sĩ:

+ Phùng kinh ngạc đến sững sờ, anh đứng há hốc mồm ra nhìn, có lúc tưởng như chết lặng trước cảnh tượng đau lòng ấy. Anh không thể tin vào mắt mình, không thể ngờ rằng sau cái đẹp toàn bích, kì diệu của tạo hóa kia là cái xấu, cái ác chứ không phải là cái thiện. Cảm giác hụt hẫng khi người nghệ sĩ ấy vừa mới đây thôi còn đang hạnh phúc ngập tràn với phát hiện của mình thì giờ đây như sụp đổ tất cả.

+ Anh phẫn nộ trước cái ác nên vứt máy ảnh, chạy nhào đến để can ngăn, bảo vệ công lí.

=> Ý nghĩa:

+ Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà rất phức tạp, chứa đựng nhiều bất ngờ, nghịch lí cho nên, không nên vội đánh giá con người, sự vật ở hình thức bên ngoài mà phải phát hiện bản chất bên trong. Nhà văn cần phải thận trọng khám phá bằng cái nhìn đa diện, nhiều chiều.

+ Mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật: Nghệ thuật chân chính luôn bắt nguồn từ cuộc đời và phải luôn gắn bó với cuộc đời, vì cuộc đời. Nói cách khác, nghệ thuật phải có giá trị hiện thực sâu sắc và thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Đó là sứ mệnh của nghệ thuật vị nghệ thuật.

2. Nhân vật người đàn bà làng chài

– Trong tác phẩm, nhân vật người đàn bà làng chài chính là tâm điểm trong câu chuyện của Phùng. Nhân vật này chủ yếu xuất hiện trong phát hiện thứ hai của Phùng về chiếc thuyền chài lưới và xuất hiện trong chính câu chuyện cuộc đời chị kể ở toàn án huyện. Qua đó, cuộc đời, số phận, tính cách, cảnh ngộ của chị gây xúc động, trăn trở mạnh mẽ không chỉ với tác giả mà còn với người đọc.

– Người đàn bà không có lấy một cái tên cụ thể. Tác giả đã gọi một cách phiếm chỉ: khi thì gọi là người đàn bà làng chài, lúc gọi là mụ, khi thì gọi là chị ta. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu không đặt tên cho người đàn bà làng chài này, cũng không phải nhà văn nghèo ngôn ngữ đến độ không thể đặt tên cho chị một cái tên mà là vì chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: chị là người vô danh, là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như bao người phụ nữ khác không hiếm gặp trên những miền quê Việt Nam.

– Ngoại hình và tuổi tác: Về ngoại hình, người đàn bà hàng chài có thân hình xấu xí, tàn tạ, trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Vì cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

– Người đàn bà hàng chài là một phụ nữ có số phận bất hạnh: cái nghèo và sự cơ cực đeo bám chị đến suốt cuộc đời. Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu làm tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố mẹ đánh nhau… Cáu xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ: có mang với một anh hàng chài đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,… Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: cứ ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.

– Nổi bật nhất ở hình ảnh người đàn bà làng chài là một người mẹ giàu lòng yêu thương, đức hy sinh và lòng vị tha. Bên trong người đàn bà hình dáng bên ngoài xấu xí, thô kệch, chịu bao cay đắng, nhọc nhằn ở cuộc đời là những phẩm chất cao đẹp.

+ Trước hết là sự nhẫn nhục, chịu đựng vì hoàn cảnh. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình. Chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy cũng như không hề có ý định rời bỏ gia đình ấy, rời bỏ người chồng vũ phu của mình. Chị hiểu cơ cực của cuộc sống mưu sinh đầy cam go trên biển không có người đàn ông: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề.

=> Đó là sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông và chia sẻ. 

+ Cách cư xử của người đàn bà là không thể khác được. Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Với người đàn bà này, các con chính là cuộc sống và lẽ sống của chị. Khi tòa án đưa ra giải pháp li dị, chị đã từ chối. Có nghĩa là chị từ chối trút bỏ tấm bi kịch nhục nhã của đời mình. Với người đàn bà này thà đi tù, bị đánh đập còn hơn phải bỏ chồng: Quý toàn bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, nhưng đừng bắt con bỏ nó.

=> Lý do đưa ra thật đơn giản, nhưng cũng thật xót xa: Cần có chồng để cùng nuôi những đứa con. Bà muốn hứng trọn nỗi đau cho riêng mình, không để các con bị tổn thương.

+ Không chỉ yêu thương, hy sinh đến quên mình vì đàn con, ở người phụ nữ này còn có một tấm lòng bao dung, độ lượng đối với chồng. Nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu nhìn người chồng là kẻ vũ phu, thô bạo, đáng lên án. Nhưng qua cái nhìn của người vợ, lão từng là: anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi. Bị chồng đánh đập thô bạo nhưng bà cũng không oán trách vì bà hiểu nỗi khổ của chồng, hiểu cái khổ đã làm người hiền lành trở thành ác độc. Chính cuộc đời vật lộn mưu sinh đã biến lão trở thành kẻ vũ phu, thô bạo.

– Người đàn bà hàng chài tuy thất học nhưng lại rất thấu trải lẽ đời, rất sắc sảo. Bà hiểu thiện chí của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng khi khuyên bà bỏ người chồng vũ phu, tàn bạo. Song bà càng hiểu hơn cuộc sống trên sông nước: Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba. Cuộc sống thực tế cần có một người đàn ông để làm chỗ dựa, dù đó là người chồng vũ phu tàn bạo.

– Không phải ngẫu nhiên tác giả chỉ gọi nhân vật là người đàn bà, có lẽ không phải chỉ một người đàn bà duy nhất, mà có thể chúng ta còn bắt gặp rất nhiều người đàn bà có chung cảnh ngộ ở bất cứ bãi biển xinh đẹp nào. Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức chân dung khiến cho người đọc phải suy ngẫm, phải trăn trở về cuộc sống của rất nhiều người xung quanh chúng ta. Và cái hình ảnh mà nhiếp ảnh Phùng chụp được cũng như những gì mà anh nghĩ về người đàn bà này là triết lí, một triết lí cho cái nhìn nhận đa chiều về cuộc sống này. Tấm lưng bạc phếch, ướt sũng của người đàn bà này có lẽ còn ám ảnh rất nhiều người nữa.

III. Tổng kết

– Bằng tài năng của một cây bút giàu bản lĩnh, qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu đã thể hiện tình yêu tha thiết đối với những cảnh đời, thân phận trớ trêu của con người và gửi gắm chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật: Nghệ thuật chân chính phải luôn luôn gắn với cuộc đời và vì cuộc đời; người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách đơn giản, cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều.