Tìm hiểu chi tiết văn bản: Từ ấy – Tố Hữu

19

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Tố hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo thuộc xã Quang Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Gia đình và quê hương có ảnh hưởng sâu sắc đến hồn thơ ngọt ngào, tâm tình tha thiết của ông.

– Bước vào tuổi thanh niên đúng vào dịp phong trào Mặt trận dân chủ đang sôi sục. Ông giác ngộ hăng hái tham gia hoạt động cách mạng, được kết nạp Đảng năm 18 tuổi. Từng bị bắt và giam cầm nhiều nhà tù, trốn khỏi nhà tù và ra bắc hoạt động. Năm 1945 trở về Huế tham gia Tổng khởi nghĩa.

– Sau cách mạng tháng 8/1945, Tố Hữu hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, từng giữ chức vụ trọng trách của nhà nước.

– Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam. Các chặng đường thờ của Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thực những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc.

2. Hoàn cảnh sáng tác

Tháng 7/1938, sau thời gian hoạt động phong trào thanh niên ở Huế, Tố Hữu vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng cộng sản Việt Nam. Niềm vui sướng hân hoan và tự hào khi được đứng dưới hàng ngũ của Đảng là cảm xúc chủ đạo của Tố Hữu để viết nên bài thơ này. Bài thơ được trích trong phần Máu lửa – phần đầu của tập thơ Từ ấy.

3. Chủ đề

Bài thơ là bản tuyên ngôn về lẽ sống của người chiến sĩ cách mạng cũng là tuyên ngôn về nghệ thuật của một nhà thơ: Sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người, phấn đấu vì cuộc sống hạnh phúc của đồng bào, tương lai tươi sáng của đất nước.

II. Trọng tâm kiến thức

– Từ ấy ra đời khi Tố Hữu được gia nhập hàng ngũ Đảng, đó là mốc son quan trọng trong cuộc đời của ông. Khi đất nước còn chìm trong đêm tối của nô lệ, Tố Hữu đã tìm thấy ánh sáng của Đảng, của cách mạng. Vì thế, nhà thơ đã thể hiện niềm hân hoan, vui sướng, say mê khi gặp lý tưởng của Đảng:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

+ Từ ấy là 8/1938, khi đó nhà thơ 18 tuổi đang tham gia hoạt động Đoàn sôi nổi ở Huế, được giác ngộ và được kết nạp Đảng. Mốc thời gian trọng đại ấy được nhà thơ kể lại như một kỉ niệm khó quên.

+ Những hình ảnh ẩn dụ nắng hạ, mặt trời chân lý, chói qua tim khẳng định lý tưởng cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ. Ánh sáng ấy rực rỡ như nắng hè, tỏa sáng những tư tưởng đúng đắn, hợp lẽ phải như chân lý. Cách dùng từ ngữ giàu hình ảnh đó thể hiện thái độ thành kính của nhà thơ.

+ Các động từ bừng và chói giàu sắc biểu cảm. Bừng chỉ ánh sáng phát ra đột ngột, chói chỉ ánh sáng có sức xuyên mạnh, nhấn mạnh ánh sáng của lý tưởng Đảng xua tan màn sương mùa của ý thức cá nhân, mở ra một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng, tình cảm.

+ Hai câu sau biểu hiện niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lý tưởng Đảng. Hình ảnh so sánh ẩn dụ vườn hoa lá với các loài hoa khoe sắc tỏa hương, cành lá xanh tươi, tiếng chim ca hót rộn rã,… Bức tranh thật đậm hương thơm, rực rỡ sắc màu, tràn đầy sức sống. Tâm hồn nhà thơ trở nên yêu đời, dạt dào sức sống, tin tưởng, lạc quan như vườn hoa ngập tràn hương sắc khi đón ánh sáng mặt trời. Đó cũng là vẻ đẹp và sức sống mới của một hồn thơ, của một thanh niên đang băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời như Tố Hữu. Câu thơ còn hàm chứa thái độ biết ơn của nhà thơ với cách mạng.

– Từ niềm vui sướng được vinh dự đứng vào hàng ngữ của Đảng, nhà thơ cảm nhận thấy sự thay đổi mới mẻ trong nhận thức về lẽ sống:

Tôi buộc hồn tôi với mọi người

Để tình trang trải tới muôn nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

+ Khi được giác ngộ, Tố Hữu nhận thức về lẽ sống là sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người. Động từ buộc thể hiện ý thức tự nguyện và quyết tâm cao độ của nhà thơ muốn vượt lên cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người, tình trang trải khắp muôn nơi.

+ Hoán dụ “trăm nơi” chỉ mọi người, quần chúng lao khổ. Từ trang trải cho thấy tâm hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời, đồng cảm sâu xa với mọi người. Trong đó, nhà thơ quan tâm đến “hồn khổ” – quần chúng lao khổ.

+ Ẩn dụ “khối đời” chủ khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ, đoàn kết chặt chẽ với nhau cùng phấn đấu vì mục tiêu chung. Khi cái tôi chan hòa trong cái ta, khi cá nhân hòa mình vào tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh của mọi người sẽ được nhân lên gấp bộ “gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”. Tố Hữu đã tìm thấy được ý nghĩa và niềm vui của cuộc đời khi hòa mình vào đời sống cần lao của nhân dân lao động. Bằng tình cảm mến yêu và đồng cảm sâu sắc, nhà thơ khẳng định sự thay đổi mới mẻ trong nhận thức về lẽ sống của mình khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng.

=> Hai khổ thơ đầu của bài là tiếng hát hân hoan, vui sướng của hồn người, hồn thơ khi bắt gặp lý tưởng của đời mình. Đó là niềm hạnh phúc khi trở thành một chiến sĩ cộng sản, chiến đấu vì cuộc sống và hạnh phúc của quần chúng lao khổ, nhân loại cần lao.

– Khi được giác ngộ, tình cảm của nhà thơ cũng có sự chuyển biến sâu sắc:

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ

+ Trước đó, Tỗ Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng cộng sản đã giúp nhà thơ vượt qua sự ích kỷ, hẹp hòi để hướng tới tình hữu ái giai cấp.

+ Tố Hữu hòa mình với nhân dân, đã tự nguyện trở thành con, thành em, thành anh của bao quần chúng lao động cực khổ, những đứa trẻ tội nghiệp nghèo khổ, rách đói.

+ Điệp từ là cùng với các từ con, em, anh và số từ ước lệ vạn nhằm nhấn mạnh, khẳng định mối quan hệ ruột thịt, một tình cảm gia đình đầm ấm, thân thiết giữa nhà thơ với nhân dân lao động.

+ Hình ảnh những “kiếp phôi pha” (những người đau khổ, bất hạnh, lam lũ) và những người “không áo cơm cù bất cù bơ” (những em bé lang thang, vất vưởng) cho thấy tấm lòng đồng cảm, thương xót của nhà thơ. Đây cũng là đối tượng sáng tác chủ yếu của Tố Hữu sau này.

=> Qua đó, nhà thơ bày tỏ lòng xót thương, căm giận của nhà thơ trước tình cảm bất công, trái ngang của cuộc đời.

III. Tổng kết

– Từ ấy là tiếng reo vui không chỉ của nhà thơ, mà còn là của cả một thế hệ thanh niên khi tìm thấy lí tưởng của Đảng, nguyện chiến đấu hết mình vì lý tưởng, vì nhân dân, vì đất nước. Họ là những người chiến sĩ trẻ, mang trong mình nhiệt huyết, mang trong mình lý tưởng, và lòng yêu thương đồng bào, yêu thương đất nước.

– Bài thơ là bản tuyên ngôn về lẽ sống của người chiến sĩ cách mạng cũng là tuyên ngôn về nghệ thuật của một nhà thơ:  sự sắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người, phấn đấu vì cuộc sống hạnh phúc của đồng bào, tương lai tươi sáng của đất nước.