Tìm hiểu chi tiết văn bản: Nhớ rừng – Thế Lữ

19

Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam có nhiều biến động với nhiều hiện tượng và trào lưu văn học mới. Đặc biệt là sự xuất hiện và thắng thế của phong trào thơ mới gắn liền với những tên tuổi: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,… Thế Lữ là một trong những nhà thơ đi tiên phong trong phong trào thơ mới. Hôm nay thầy và trò chúng ta sẽ đi tìm hiểu bài thơ “Nhớ rừng” để cảm nhận nét đẹp của thơ mới cũng sư tâm sự của nhà thơ Thế Lữ.

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Thế Lữ (1907 – 1989), tên khai sinh Nguyễn Thứ Lễ.

– Là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới (1932 – 1945) buổi đầu.

– Với một hồn thơ dồi dào, đầy lãng mạn, Thế Lữ đã góp phần quan trọng vào việc đổi mới thơ ca và đem lại chiến thằng cho Thơ mới. Ngoài sáng tác thơ, ông còn viết truyện.

– Các tác phẩm chính: “Mấy vần thơ” (1935); “Bên đường thiên lôi” (1936); Truyện “Vàng và máu” (1934).

2. Tác phẩm

a. Xuất xứ

– “Nhớ rừng” được sáng tác năm 1934 và được in trong tập thơ “Mấy vần thơ” xuất bản năm 1935.

– Đây là bài thơ tiêu biểu nhất của Thế Lữ và là tác phẩm góp phần mởi đường cho sự thắng lợi của phong trào thơ mới.

b. Đại ý

Mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú, nhà thơ đã diễn tả sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt bằng những vẫn thơ tràn đầy cảm xúc lãng mạn. Bài thơ đã khơi gợi lòng yêu nước thầm kín của người dân mất nước thuở ấy.

c. Bố cục: 3 phần:

– Phần 1: Đoạn 1 + 4: Khối căm hờn và niềm uất hận

– Phần 2: Đoạn 2 + 3: Nỗi nhớ thời oanh liệt

– Phần 3: Đoạn 5: Khao khát mộng ngàn đời

II. Tìm hiểu văn bản

1. Cảnh con hổ ở vườn bách thú (đoạn 1 và 4)

– Đoạn 1 thể hiện tâm trạng con hổ trong cảnh ngộ bị tù hãm ở vườn bách thú.

– Hoàn cảnh của con hổ đã có sự đổi thay:

+ Xưa: chúa tể muôn loài; là oai linh nơi rừng thẳm.

+ Nay: bị nhốt chặt trong cũi sắt; nằm dài trong ngày tháng dần qua; trở thành “trò lạ mắt”, “thứ đồ chơi”; ngang hàng với “bọn gấu dở hơi” và “cặp báo chuồng bên vô tư lự”.

– Cảnh vườn bách thú dưới con mắt của chúa sơn lâm.

+ Đó là: “Những cảnh không đời nào thay đổi”.

+ Đó là: “Những cảnh sửa sang, tầm thương, giả dối”.

+ Học đòi bắt chước vẻ hoang vu.

– Với thủ pháp liệt kê cùng với giọng điệu giễu nhại, hằn học và cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng túng thể thiện sự chán chường, khinh miệt đã góp phần diễn tả sự chật chội, bó buộc, muốn tung phá để được sống đúng mình, thỏa cái khao khát được tháo cũi, sổ lồng.

=> Đó là hình ảnh thực tại xã hội được cảm nhận bởi tâm hồn lãng mạn, khao khát tự do. Thái độ ngao ngán, chán ghét cao độ đối với cảnh vườn bách thú của con hổ cũng chính là thái độ của tác giả đối với xã hội.

2. Cảnh con hổ trong chốn giang sơn hũng vĩ của nó

– Ở đoạn 2, cảnh sơn lâm được gợi tả qua chi tiết: Bóng cả, cây già, tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, thét khúc trường ca dữ dội:

“Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

Với thi thét khúc trường ca dữ dội”

– Điệp từ “với” được lặp lại 3 lần cùng với các động từ chỉ đặc điểm của hành động gợi tả sức sống mãnh liệt của núi rừng bí ẩn.

– Hình ảnh chúa tể của muôn loài được khắc họa mang vẻ đẹp: ngang tàng, lẫm liệt giữa núi rừng uy nghiêm, hùng vĩ:

“Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

Vươn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,

Là khiến cho mọi vật phải im hơi.

Ta biết ta chúa tể cả muôn loài,

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi”.

– Các từ ngữ gợi tả hình dáng, tính cách hổ: Bước chân dõng dạc, lượn tấm thân, vờn bóng, mắt thần đã quắc…

– Ở đoạn 3, cảnh núi rừng được tác giả miêu tả ở thời điểm: những đêm, những ngày mưa, những bình minh, những chiều.

– Trong mỗi thời điểm đó, nổi bật nên những cảnh sắc: đêm vàng bên bờ suối, ngày mưa chuyển bốn phương ngàn, bình minh cây xanh nắng gội, chiều lênh láng máu sau rừng.

+ Cảnh “những đêm vàng bên bờ suối” hết sức diễm lệ với hình ảnh con hổ “say mồi đứng uống ánh trăng tan” đầy lãng mạn.

+ Đó là cảnh “ngày mưa chuyển bốn phương” với hình ảnh con hổ mang dáng dấp đế vương “ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới”.

+ Đó là cảnh “bình minh cây xanh nắng gội” chan hòa ánh sáng, rộn rã tiếng chim đang ca hát cho giấc ngủ ngon lành của chúa sơn lâm”.

+ Và đó là cảnh “chiều lênh láng máu sau rừng” thật là dữ dội với con hổ đang chờ đợi mặt trời “chết” để “chiếm lấy riêng phần bí mật” trong vũ trụ.

– Đoạn 3 của bài thơ có thể coi là một bộ tranh tứ bình lộng lẫy. Bốn cảnh, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ, tráng lệ. Nhưng đó chỉ là dĩ vãng huy hoàng, chỉ hiện ra trong nỗi nhớ da diết tới đau đớn của con hổ.

– Sử dụng biện pháp đối lập giữa một bên là cảnh tù túng, tầm thường, giả dối với một bên là cuộc sống chân thật, phóng khoáng, sôi nổ tự do.

– Diễn tả khát vọng mãnh liệt về một cuộc sống tự do, cao cả, chân thật.

3. Nỗi khao khát giấc mộng ngàn của con hổ

– Hướng về một không gian oai linh, hùng vĩ, thênh thang. Nhưng đó là một không gian trong mộng “Nơi ta không còn được thấy bao giờ!”

– Bộc lộ trực tiếp nỗi tiếc nhớ cuộc sống chân thật, tự do.

– Từ tâm sự nhớ rừng của con hổ ở vườn bách thú, tác giả muốn gửi gắn tâm sự:

+ Nỗi chán ghét thực tại tù túng, tầm thường, giả dối.

+ Khát vọng tự do cho cuộc sống được là của chính mình.

=> Bài thơ thể hiện nỗi bất hòa sâu sắc đối với thực tại và niềm khao khát tự do mãnh liệt của nhân vật trữ tình.

4. Nghệ thuật đặc sắc nổi bật của bài thơ

– Mạch cảm hứng lãng mạn, cảm xúc sôi nổi, cuồn cuộn tuôn trào dưới ngòi bút của nhà thơ.

– Lựa chọn hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng để nói lên tâm sự, cảm hứng lãng mạn của mình.

– Hình ảnh thơ giàu chất tạo hình, đầy ấn tượng. Đặc biệt là những hình ảnh, chi tiết trong cảnh sơn lâm hùng vĩ, tất cả đều toát lên một vẻ đẹp tráng lệ, khoáng đạt, phi thường, đồng thời rất thơ mộng.

– Ngôn ngữ và nhạc điệu phong phú, giàu sức biểu cảm, thể hiện “đắt” ý thơ.

– Bài thơ giàu nhạc tính, âm điệu dồi dào, cách ngắt nhịp linh hoạt. Giọn thơ khi thì u uất, dằn vặt, khi thì say sưa, tha thiết, hùng tráng, song tất cả vẫn nhất quán, liền mạch và đều tràn đầy cảm xúc.

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật

– Những vần thơ tràn đầy cảm xúc lãng mạn.

– Các thủ pháp nghệ thuật: ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ, câu hỏi tu từ, câu thơ cảm thán,…

2. Nội dung

Nhớ rừng, mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú để diễn tả sâu sắc: Nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt.

IV. Luyện tập

Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ sau:

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”

Gợi ý:

  • Nội dung: Phân tích các thủ pháp nghệ thuật để bật ra nội dung:

+ Cấu trúc đoạn thơ là cấu trúc tứ bình mang vẻ đẹp nghệ thuật cổ điển, có ít nhiều cách tân, sáng tạo.

+ Trước hết là nỗi nhớ khôn nguôi: nhớ suối, nhớ trăng, nhớ những “đêm vàng”, nhớ lúc “say mồi” ung dung, thỏa thích bên bờ suối.

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan.”

Hai chữ “nào đâu” phiếm chỉ, hỏi một kỷ niệm đẹp đã lùi sâu vào dĩ vãng.

+ Hình ảnh “đêm vàng bên bờ suối” một ẩn dụ đầy mộng ảo nên thơ => Bức tranh thứ nhất trong bộ tứ bình được Thế Lữ vẽ bằng bút pháp tài hoa gợi lên hình ảnh chúa sơn lâm say mồi trong niềm vui hoan lạc giữa một đêm trăng bên bờ suối.

+ Bức tranh thứ hai: Nói lên nỗi nhớ ngẩn ngơ man mác của hổi về những ngày mưa rừng. Hổ ung dung “lặng ngắm” cảnh giang sơn, nơi mình ngự trị, xúc động cảm thấy “giang sơn ta đổi mới”. Chữ “đâu” lần thứ 2 xuất hiện, biểu lộ nỗi lòng tiếc nuối, ngẩn ngơ.

+ Điệp từ “Ta” thể hiện niềm tự hào về những kỷ niệm đẹp thuở “vùng vẫy ngày xưa” => Bức tranh thứ 2 gợi tả một không gian nghệ thuật hoành tráng của giang san chúa sơn lâm mang 3 tầm “bốn phương ngàn”.

+ Kỷ niệm thứ 3 nói về giấc ngủ của hổ trong cảnh bình minh. Vương quốc tràn ngập trong màu xanh và ánh nắng: “bình minh cây xanh nắng gội”…