Tìm hiểu chi tiết văn bản: Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn

49

Trong chương trình ngữ văn lớp 7, chúng ta đã được tìm hiểu văn bản được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta, đó là văn bản “Sông núi nước Nam”. Trong lịch sử văn học dân tộc, có rất nhiều áng văn thơ bất hủ như thế. Chẳng hạn như “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấ”, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, và sau này nữa là “Tuyên ngôn độc lập” củ Hồ Chí Minh. Trong số đó, “Hịch tướng sĩ” được coi là bản anh hùng ca của thời đại, là lời hiệu triệu non sông khi nước nhà lâm nguy. Hôm nay, chúng ta cùng đi tìm hiểu tác phẩm này.

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả:

– Trần Hưng Đạo (1231 ? – 1300), tước Hưng Đạo Vương, quê ở Nam Định.

– Ông là vị anh hùng dân tộc văn võ song toàn. Với tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt đã chiến thắng lẫy lừng với 3 lần chiến thắng quân Mông – Nguyên.

– Ông là nhà lý luận quân sự đại tài với các tác phẩm: “Vạn kiếp tông bí truyền thư”; “Binh thư yếu lược”; “Hịch Tướng Sĩ”…

2. Tác phẩm:

a. Hoàn cảnh sáng tác:

Sau chiến thắng 1258 đến thời điểm kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ 2 (1285) là gần 30 năm. Đa số các tướng lĩnh ngủ quên trên chiến thắng. Một số thì mải mê hưởng lạc, một số sợ uy của giặc nên dao động, muốn cầu hòa. Hịch tướng sĩ ra đời để khích lệ tướng sĩ học tập “Binh thư yếu lược” và đánh tan tư tưởng thờ ơ, thái độ cầu an, hưởng lạc của họ.

b. Thể loại: Hịch

– Hịch là thể văn nghị luận cổ xưa dùng để tập hợp lực lượng, lên án kẻ thù, kêu gọi hành động, răn dạy, vỗ về quân sĩ, dân chúng.

– Bố cục chung của 1 bài hịch: 4 phần:

+ Phần mở đầu: Có tính chất nêu vấn đề.

+ Phần thứ hai: Nêu truyền thống vẻ vang trong sử sách để gây dựng lòng tin tưởng.

+ Phần thứ ba: Nhận định tình hình, phân tích phải trái để gây lòng căm thù giặc.

+ Phần kết thúc: Nêu chủ trương cụ thể và kêu gọi đấu tranh.

– Sự khác nhau giữa hịch và chiếu:

+ Giống nhau:

++ Thuộc thể văn nghị luận, kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, có thể viết bằng văn xuôi, văn vần, văn biền ngẫu.

++ Đều dùng để ban bố công khai do vua, tướng lĩnh biên soạn.

+ Khác nhau:

++ Chiếu: Dùng để ban bố mệnh lệnh.

++ Hịch: Dùng để cổ vũ, thuyết phục, kêu gọi, động viên, khích lệ tinh thần quân sĩ chống kẻ thù cũng có khi khuyên nhủ, răn dậy thần dân và người dưới quyền.

c. Bố cục: 4 phần

– Phần 1: Tư đầu … còn lưu tiếng tốt: Nêu gương những trung thần nghĩa sĩ trong sử sách.

– Phần 2: Tiếp… cũng vui lòng: Nhận định tình hình đất nước và nỗi lòng của tác giả.

– Phần 3: Tiếp … phỏng có được không?: Lời phân tích phải trái cùng các tướng sĩ.

– Phần 4: Phần còn lại: Những nhiệm vụ cấp bách, khích lệ tinh thần chiến đấu.

II. Tìm hiểu văn bản

1. Nêu gương những trung thần nghĩa khí trong sử sách

– Mở đầu bài hịch, tác giả nêu gương sử sách phương Bắc:

+ Xưa: Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh…

+ Nay: Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang…

– Họ thuộc nhiều tầng lớp, địa vị xã hội:

+ Có người là tướng lĩnh: Do Vu, Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang, Xích Tu Tư…

+ Có người làm quan nhỏ coi giữ ao cá như: thân Khoái.

– Theo quan niệm của người Trung Đại: thứ nhất lập đức; thứ hai lập công; thứ ba lập ngôn. Vì vậy lập công danh để lại cho đời trở thành lẽ sống lớn của đấng nam nhi thời ấy. Họ cho rằng trung quân ái quốc, hy sinh cho vua chúa, chủ soái của mình là hy sinh cho đất nước.

2. Nhận định tình hình đất nước và nỗi lòng của tác giả

a. Tội ác của giặc:

– Đi lại nghênh ngang => hành động bạo ngược, coi kinh thành Đại Việt là quận huyện của chúng.

– Uốn lưỡi cú diều, sỉ mắng triều đình => Cậy thế nước lớn để sỉ mắng vua tôi nhà Trần

– Đem thân dê chó, bắt nạt tể phụ => một tên sứ giặc bình thường mà dám xúc phạm đến tể phụ – vị quan lớn nhất trong triều đình, đại diện cho một quốc gia, dân tộc.

– Thác mệnh Hổ Tất Liệt đòi ngọc lụa, lòng tham không cùng.

– Đòi ngọc lụa, vét của kho có hạn…

– Đây là những hình ảnh có thực trong lịch sử. Chúng đã xúc phạm đến quốc thể và lòng tự tôn dân tộc:

+ Hành động khiêu khích, bạo ngược.

+ Về chính trị: xúc pham quốc thể.

+ Về kinh tế: ra sức vơ vét.

=> Trần Quốc Tuấn muốn truyền tới các tướng sĩ lòng căm thù giặc, nỗi oán hận khi quốc thể bị lăng nhục để từ đó thổi bùng lên ngọn lửa căm thù ở tướng sĩ.

b. Nỗi lòng của tác giả:

– Quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa…

– Xẻ thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù…

– Trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác … vui lòng

– Hình ảnh “nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt/ nước mắt đầm đìa” là những hình ảnh ẩn dụ, ước lệ để bộc lộ trực tiếp tình cảm của mình.

– Với lòng căm thù sôi sục, tác giả khao khát được trả thù và phải dùng những hình thức trừng phạt mạnh nhất, ghê gớm nhất: xả thịt; lột da; nuốt gan; uống máu đối với kẻ thù thì mới hả lòng căm giận.

=> Trần Quốc Tuấn là một người yêu nước, căm thù giặc sâu sắc.

c. Mối ân tình

– Mối ân tình giữa chủ và tướng, giữa ông và các tướng sĩ:

+ Không có mặc – cho mặc.

+ Không có ăn – cho ăn.

+ Quan nhỏ – thăng chức.

+ Lương ít – cấp bổng.

+ Đi thủy – cho thuyền.

+ Đi bộ – cho ngựa.

+ Trận mạc – cùng sống chết.

+ Nhàn hạ – cùng vui cười.

=> Chủ tướng quan tâm đến mọi mặt của tì tướng. Ông đáp ứng kịp thời, đầy đủ, cùng nhường cơm xẻ áo, chia ngọt xẻ bùi, cùng đồng cam, cộng khổ sông pha trận mạc vào sinh ra tử.

d. Lời phê phán:

– Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra tướng sĩ những sai trái:

+ Chủ nhục – không lo => Thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm.

+ Nước nhục – không thẹn.

+ Làm tướng phải hầu quân giặc – không tức.

+ Nghe nhạc đĩa yến ngụy sứ – không căm.

+ Lấy việc chọi gà – đùa vui.

+ Đánh bạc – làm tiêu khiển.

+ Ham săn bắn – quên việc binh.

+ Lo làm giàu – quên việc nước.

+ Thích rượu ngon

+ Mê tiếng hát…

=> Nhấn mạnh sự tổn thất nặng nề giữa chủ tướng và quân sĩ gắn liền với nhau khiến cho tướng sĩ thức tỉnh mài sắc ý chí chiến đấu bảo vệ đất nước cũng là bảo vệ quyền lợi của chủ tướng và của chính các cá nhân tướng sĩ.

e. Lời khuyên:

Chủ tướng khuyên tướng sĩ nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực luyện tập quân sĩ, trao đổi binh thư, sẵn sàng chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược.

3. Lời kêu gọi

– Tiếp tục phân tích từ nhạt đến đậm, từ nông đến sâu, gắn mất với còn, vinh – nhục, chủ – tướng, nước – nhà, chung – riêng.. từng bước làm cho người đọc thấy rõ đúng sai, phải trái.

– Câu kết lặp lại giống đoạn trên chỉ thêm vào từ “khôn” trở thành lời khẳng định vừa đanh thép, vừa xoáy sâu vào tâm trí người nghe như lời kết luận hiển nhiên không thể khác.

– Câu kết: “Ta viết hài kịch này để các ngươi biết bụng ta” có giọng tâm tình như lời tâm sự bày tỏa tấm lòng của vị chủ tướng hết lòng vì non sông xã tắc, hết lòng yêu thương tì tướng. Câu văn làm cho văn nghị luận mang tính biểu cảm và tăng tính thuyết phục.

III. Tổng kết

1. Nội dung:

– Phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta.

– Nêu lên vấn đề nhận thức và hành động trước nguy cơ mất nước bị xâm lược.

2. Nghệ thuật:

– Bài hịch kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận với yếu tố văn chuông, giữa tư duy logic và tư duy hình tượng.

– Dẫn chứng chính xác: phép so sánh, điệp từ, liệt kê tạo  nên giọng văn hùng hồn, dồn dập.