Tìm hiểu chi tiết văn bản: Chiếu dời đô – Lý Công Uẩn

16

Định đô, lập nước là một trong những việc quan trọng nhất của một quốc gia. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, thủ đô của nước Việt đã thay đổi nhiều lần: Phong Châu (Việt Trì – Phú Thọ), Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội), Tây Đô (Thanh Hóa), Phú Xuân (Huế), Hoa Lư (Trường Yên – Ninh Bình) và cuối cùng là Đại La (Thăng Long – Hà Nội) trở thành niềm tự hào cua người dân đất Việt. Với khát vọng xây dựng một đất nước Đại Việt hùng mạnh và bền vững muôn đời, sau khi được triều thần suy tôn làm vua, Lý Công Uẩn đã đổi tên nước từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt, đặt niên hiệu là Thuận thiên (thuận theo ý trời) và quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La. Trước khi dời đô, vua ban “Thiên đô chiếu” cho thần dân được biết.  Bài “Chiếu dời đô” không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn giá trị văn chương sâu sắc. Bài học hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu.

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Lý Công Uẩn (974 – 1028), quê huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

– Thở nhỏ, nổi tiếng là thông minh, khôi ngô, rắn rỏi, được thiền sư Vạn Hạnh ra công dạy dỗ, lo toan cho lên nghiệp lớn.

– 10/1009 Lê Long Đĩnh băng hà, ông được giới tăng lữ và triều thần tôn làm vua, lấy niên hiệu là Thuận thiên, lập nên triều Lý phát triển toàn diện cho dân tộc và quốc gia phong kiến độc lập.

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh ra đời:

Bản chiếu được ban ra vào năm Canh Tuất niên hiệu Thuận thiên thứ nhất. Năm 1010, ngay sau khi Lý Công Uẩn được tôn lên làm vua. “Chiếu dời đô” được viết để bày tỏ ý định của Lý Công Uẩn muốn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La.

b. Thể loại: Chiếu

– Chiếu: còn gọi là chiếu chỉ, chiếu ban, chiếu thư, chiếu mệnh.

+ Mục đích: Là thể văn do vua ban để ban bố mệnh lệnh.

+ Nội dung: Chiếu thường thể hiện một tư tưởng lớ ảnh hưởng đến cả triều đại, đất nước.

+ Hình thức: Văn xuôi, văn vần, hoặc văn biền ngẫu.

– Chiếu dời đô:

+ Hình thức: Văn xuôi xen biền ngẫu

+ Ngoài tính chất mệnh lệnh dùng ngôn ngữ đơn thoại còn có tính chất tâm tình, dùng ngôn ngữ đối thoại.

c. Bố cục: 3 phần

– Phần 1: Từ đầu… không thể không dời đổi: Lý do dời đô

– Phần 2: Tiếp … muôn đời: Lý do chọn Đại La làm kinh đô

– Phần 3: Còn lại: Ban lệnh dời đô

II. Tìm hiểu văn bản

1. Lý do dời đô

a. Cơ sở lịch sử:

– Dẫn chứng:

+ Nhà Thương: 5 lần dời đô.

+ Nhà Chu: cũng 3 lần dời đô.

– Người Việt thời trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Hoa, coi văn hóa ấy là mẫu mực đáng làm gương để tăng tính thuyết phục.

– Mục đích:

+ Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? => trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân.

+ Chỉ vì muốn mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu.

– Kết quả: Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh.

– Dẫn chứng cụ thể, có thật; phương pháp lập luận thì chặt chẽ: theo suy luận tương phản và nhân quả; câu văn biền ngẫu tạo nhịp điệu nhịp nhàng, cân đối. => Dời đô là một tất yếu khách quan trong lịch sử từng mang lại kết quả tốt đẹp.

b. Cơ sở thực tiễn

– Dẫn chứng: Hai triều đại Đinh, Lê theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu cứ đóng yên đô thành nơi đây.

+ Triều Đinh tồn tại được 11 năm (968 – 979).

+ Triều Tiền Lê tồn tại được 30 năm (979 – 1009).

– Hậu quả: Khiến triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi.

– Tác giả bộc lộ cảm xúc: Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đô. => Cảm xúc kết hợp với lý lẽ để tăng sức thuyết phục.

– Phê phán hai triều đại Đinh, Lê trong việc định đô ở Hoa Lư; những khó khăn trong việc đóng đô và gián tếp khẳng định sự cần thiết phải dời đô khỏi Hoa Lư.

2. Lý do chọn Đại La làm kinh đô

+ Ở vào nơi trung tâm trời đất; đúng ngôi năm bắc đông tây => Nơi hội tụ tinh hoa

+ Thế rồng cuộn hổ ngồi, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi => Thế đất hiểm yếu

+ Địa thế rộng mà bằng, cao mà thoáng => Thế đất tiềm năng phát triển.

+ Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi => đất lành, thiên nhiên ưu đãi.

+ Là đầu mối giao lưu: “chốn hội tụ của bốn phương”.

+ Là mảnh đất hưng thịnh: “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”.

=> Tác giả khẳng định ưu thế mọi mặt của Đại La, đây là nơi xứng đáng nhất để định đô của nước Đại Việt.

3. Ban lệnh dời đô

– Nêu ý muốn chọn đất Đại La làm kinh đô.

– Hỏi ý kiến “các khanh” về ý muốn đó.

=> Nhà vua hoàn toàn có thể lệnh cho bầy tôi thi hành. Nhưng ông là nhà vua dân chủ, tạo ra sự đồng cảm, dân chủ nhất định giữa vua và thần dân. Độc thoại trở thành đối thoại, ý nguyện của nhà vua trở thành ý nguyện của trăm họ.

III. Tổng kết

1. Nội dung:

– Chiếu dời đô thể hiện khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.

– Lý Công Uẩn là một vị vua yêu nước và có tầm nhìn xa trông rộng.

2. Nghệ thuật:

– Hệ thống lập luận chặt chẽ.

– Ngôn ngữ mang tính chất đối thoại.

– Kết hợp hài hòa giữa lý và tình.