Tìm hiểu chi tiết văn bản: Rừng Xà Nu – Nguyễn Trung Thành

16

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh ngày 5 tháng 9 năm 1932 quê ở xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

– Nguyên Ngọc là bút danh của một nhà văn, nhà báo, biên tập, dịch giả, nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục nổi tiếng của Việt Nam. Ông còn được xem là nhà văn quân đội, gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên.

– Năm 1950, khi đang học trung học chuyên khoa (nay là trung học phổ thông), ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, chủ yếu hoạt động ở Tây Nguyên – chiến trường chính của Liên khu V bấy giờ. Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông chuyển sang làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu V.

– Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc và viết tiểu thuyết Đất nước đứng lên, kể về cuộc kháng chiến chống Pháp của người Ba Na, tiêu biểu là anh hùng Núp và dân làng Kông-Hoa, dựa trên câu chuyện có thật của anh hùng Đinh Núp. Tác phẩm khi xuất bản được nhiều người yêu thích và hâm mộ. Sau này cuốn truyện được dựng thành phim.

– Năm 1962 ông trở lại miền Nam, lấy bí danh Nguyễn Trung Thành, hoạt động ở khu V, là Chủ tịch chi hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng của quân khu V. 

– Sau chiến tranh, ông có thời gian làm Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ.

– Tác phẩm chính: Đất nước đứng lên, Rẻo cao, Đường chúng ta đi, Rừng xà nu, Tản mạn nhớ và quên, Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2004; Nghĩ dọc đường, Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005; Lắng nghe cuộc sống, Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2006,…

2. Hoàn cảnh sáng tác

– Tác phẩm được viết năm 1965 khi giặc Mĩ đổ quân ồ ạt vào bãi biển Chu Lai – Quảng Ngãi. Đó là lúc nhà văn muốn viết một bài “Hịch tướng sĩ” thời đánh Mĩ để động viên, cổ động nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ.

– Truyện được đăng trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ, sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.

3. Tóm tắt tác phẩm Rừng xà nu

Mở đầu truyện là cảnh rừng xà nu bạt ngàn đứng trong “tầm đại bác ”của giặc đang ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng Xôman. Sau 3 năm đi lực lượng, Tnú được cấp trên cho phép về thăm làng một đêm. Bé Heng nay đã trở thành một giao liên chững chạc, nhanh nhẹn. Dít nay đã trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội vững vàng.

Đêm hôm đó, cụ Mết đã kể cho cả dân làng nghe về cuộc đời Tnú. Hồi đó Mĩ Diệm khủng bố gắt gao, được anh Quyết dìu dắt Tnú cùng Mai tham gia nuôi giấu cán bộ cách mạng từ nhỏ. Giặc bắt anh, sau 3 năm anh lại vượt ngục Kontum trở về. Lúc này anh Quyết đã hi sinh, Tnú lấy Mai. Anh tiếp tục cùng dân làng mài giáo mác chuẩn bị chiến đấu. Giặc nghe tin, chúng về làng càn quét, khủng bố. Kẻ thù bắt vợ con anh, tra tấn tàn bạo ngay trước mắt anh. Căm hờn cháy bỏng, anh đã nhảy xổ ra giữa bọn lính nhưng cũng không cứu được mẹ con Mai. Giặc bắt anh, quấn giẻ tẩm nhựa xà nu đốt mười đầu ngón tay anh. Cụ Mết cùng thanh niên trong làng đã nổi dậy giết sạch bọn lính cứu Tnú. Sau đó anh gia nhập lực lượng quân giải phóng. Câu chuyện kết thúc bằng cảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú trở lại đơn vị, trước mắt họ là những cánh rừng xà nu nối tiếp đến tận chân trời.

4. Ý nghĩa nhan đề

– Nhan đề là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn. Hình ảnh rừng xà nu là linh hồn của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo và dụng ý nghệ thuật của nhà văn được khơi nguồn từ hình ảnh này.

– Rừng xà nu là hình ảnh trung tâm có vẻ đẹp riêng, gắn bó mật thiết với cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân Tây Nguyên, biểu tượng cho những phẩm chất cao đẹp của con người Tây Nguyên: sức sống mãnh liệt, kiên cường, bất khuất, khao khát tự do.

– Nhan đề còn gợi chủ đề, cảm hứng sử thi cho truyện ngắn.

II. Tìm hiểu chi tiết

1. Hình tượng cây xà nu

– Xà nu là hình tượng bao trùm là mạch sống, mạch hồn của tác phẩm. Khi cầm bút sáng tác thiên truyện này, hình ảnh đầu tiên hiện về trong tâm trí ông là cây xà nu, những cánh rừng xà nu. Hình tượng thiên nhiên ấy đã trở thành chủ âm của tác phẩm, nó chiếm giữ những vị trí quan trọng nhất của truyện ngắn: nhan đề, mở đầu và kết thúc. Hình ảnh cây xà nu còn trở đi trở lại nhiều lần tạo nên không gian đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên.

– Cây xà nu gắn bó mật thiết với cuộc sống con người Tây Nguyên. Cây xà nu hiện lên trong tác phẩm là một loài cây đặc thù, tiêu biểu cho vùng đất Tây Nguyên. Qua hình tượng cây xà nu, nhà văn đã tạo dựng được hình ảnh hùng vĩ và hoang dã mang đậm màu sắc Tây Nguyên cho câu chuyện.

– Cây xà nu luôn gắn bó gần gũi với đời sống của dân làng Xô man, có mặt trong đời sống hàng ngày của dân làng. Lửa xà nu cháy dần dật trong mỗi bếp, trong đống cửa của nhà ưng tập hợp dân làng, khói xà nu xông bảng nứa để Tnú  và Mai học chữ. Khi Tnú  trở về đơn vị, cụ Mết và Dít đưa anh ra đến cánh rừng xà nu cạnh con nước lớn.

– Cây xà nu còn tham gia vào những sự kiện trọng đại của dân làng: ngọn đuốc xà nu dẫn đường cho cụ Mết và dân làng vào rừng lấy giáo, mác, dụ, rựa đã giấu kĩ chuẩn bị nổi dậy. Mười ngón tay Tnú bị đốt vì giẻ tẩm nhựa xà nu, và chính vì cảnh tượng đau thương ấy dân làng đã nổi dậy để đống lửa xà nu lớn giữa nhà soi rõ xác mười tên lính giặc nằm ngổn ngang.

– Cây xà nu cũng đã thấm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ của người Tây Nguyên. Tnú cảm nhận về cụ Mết ngực cụ căng như cây xà nu lớn. Trong câu chuyện về Tnú, cụ Mết cũng nói về cây xà nu với tất cả tình cảm yêu thương, gần gũi xen lẫn tự hào: Không có gì mạnh bằng cây xà nu nước ta, cây xà nu đã trở thành máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Tây Nguyên.

– Cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất con người Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng. Ta có thể thấy ý đồ nghệ thuật này khi tác giả miêu tả song hành hai hình tượng cây xà nu và những con người Tây Nguyên.

+ Thứ nhất, thương tích của rừng xà nu do đại bác của giặc gây ra tượng trưng cho những mất mát đau thương vô bờ mà người dân Tây Nguyên phải chịu đựng. Nếu rừng xà nu hàng vạn cây không cậy nào không bị thương thì con người Tây Nguyên cũng vậy. Những cây xà nu non bị đại bác chặt đứt làm đôi thì tượng trưng cho những đứa con của Tnú và Mai. Còn những cây xà nu trưởng thành đại bác không giết nổi chúng thì cũng giống như Tnú và Dít, những con người trưởng thành từ những đau thương mất mát của chiến tranh.

+ Thứ hai, cây xà nu có đặc tính ham ánh sáng, đặc tính ấy tượng trưng cho niềm khát khao tự do của người dân Tây Nguyên. Nguyễn Trung Thành viết, ít có loài cây nào ham ánh sáng mặt trời đến thế,… Con người Tây Nguyên cũng vậy, luôn khao khát tự do, mặc dù bom đạn đã giết bà Nhan, anh Xút và cả cán bộ Quyết nhưng Tnú và Mai vẫn kiên trì nuôi giấu cán bộ.

+ Thứ ba, khả năng sinh tồn mãnh liệt của cây xà nu và sự rộng lớn của rừng xà nu giúp ta gợi liên tưởng đến sự tiếp nối của nhiều thế hệ người Tây Nguyên. Nguyễn Trung Thành viết: Trong rừng ít có loại cây nào sinh sôi nảy nở khỏe như vậy, cạnh một cây xà nu mới ngã đã có bốn, năm cây con mọc lên xanh rờn, hình nhọn mũi tên, lao thẳng lên bầu trời. Làng Xô man cũng có những thế hệ tiếp nối như vậy: cụ Mết là cây xà nu lớn; Tnú, Dít, Mai là những cây xà nu trưởng thành và bé Heng là cây xà nu con rắn rỏi.

+ Thứ tư, sự tồn tại của rừng xà nu qua những hành động hủy diệt của kẻ thù tượng trưng cho sức sống bất diệt và khả năng vươn lên mạnh mẽ của con người Tây Nguyên trong chiến đấu.

=> Hình tượng cây xà nu có quan hệ mật thiết với hình tượng nhân vật Tnú. Hai hình tượng này không tách rời nhau mà gắn bó khăng khít với nhau. Rừng xà nu sẽ không thể trải mãi tới chân trời trong màu xanh bất diệt khi con người chưa thấm thía bài học chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo.

2. Hình tượng con người qua tác phẩm

2.1. Nhân vật Tnú

– Trong dụng ý nghệ thuật của mình, nhà văn Nguyễn Trung Thành muốn nói: Rừng xà nu là truyện của một đời được kể trong một đêm. Người mà cuộc đời được kể trong một đêm ấy chính là Tnú.

rừng xà nu

– Tnú là người trung thành với cách mạng:

+ Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được dân làng Xô Man nuôi dưỡng, tham gia vào việc nuôi giấu cán bộ cách mạng và luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều đêm Tnú phải ngủ trong rừng vì sợ lỡ giặc lùng, ai dẫn cán bộ chạy.

+ Nghe anh Quyết học chữ, Tnú lấy tre nứa làm bảng. Tnú đi ba ngày đường tới núi Ngọc Linh mang về một xà lét đầy đá trắng làm phấn. Trong lúc học chữ, Tnú tỏ ra tối dạ, học hoài không nhớ nên tự lấy đá đập vào đầu chảy máu nhưng chỉ một lời động viên của anh Quyết thì Tnú lại càng quyết tâm.

– Gan dạ, dũng cảm, mưu trí:

+ Đi liên lạc, Tnú không bao giờ chịu đi đường mòn. Giặc vây các ngả, Tnú nhìn quanh một lượt xé rừng mà đi. Qua sông, Tnú không lựa chỗ nước êm, mà cứ lựa chỗ thác mạnh để bơi ngang vì Tnú biết rằng qua chỗ nước êm, thằng Mĩ Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ.

+ Khi bị giặc bắt, Tnú nuốt thư vào bụng, chấp nhận bị tra tấn chứ không khai. Khi bị giặc đốt mười đầu ngón tay, Tnú không hề kêu than mà cắn răng chịu đựng.

– Tnú là người yêu bản làng:

+ Sinh ra giữa núi rừng Tây Nguyên, Tnú rất yêu thương bản làng của mình. Ba năm đi chiến đấu xa bản làng, khi trở về, Tnú vô cùng xúc động. Anh nhớ từng hàng cây, con đường, dòng suối mát và nhớ nhất là tiếng chày giã gạo.

– Tnú rất yêu thương vợ con:

+ Tnú yêu Mai bằng một tình yêu chân thành và mãnh liệt vì nó bắt nguồn từ tình bạn bè, tình đồng chí. Khi trở về làng, nhìn gốc xây xà nu, những kỉ niệm thơ ấu lại ùa về những kỉ niệm đó cắt vào lòng anh như một nhát dao.

+ Ngày con Tnú chào đời, vì bận công tác, Tnú không đi Kom Tum mua vải cho con được, anh phải xé đôi tấm đồ của mình ra làm tấm choàng cho Mai địu con.

+ Vì bí mật cách mạng, Tnú buộc phải núp sau một cây vả để chứng kiến kẻ thù man rợ dùng cây sắt đánh đập, tra tấn dã man vợ con anh. Tnú đau đớn dữ dội nhưng anh không làm gì được, tay anh bứt hàng chục trái vả mà không hề hay biết. Khi nghe tiếng con ré lên rồi im bặt, căm thù dồn nén không chịu được nữa, anh lao vào lũ giặc với tiếng thét lớn. Rồi anh hành động thật đẹp: Anh dang hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc ôm lấy mẹ con Mai, mặc dù anh hiểu rằng sẽ bị giặc bắt và giết chết. Tnú không cứu được hai mẹ con Mai vì anh chỉ có hai bàn tay không.

– Tnú căm thù giặc:

+ Tnú mang trong tim ba mối thù: Mối thù của bản thân, lưng Tnú dọc ngang vết dao giặc chém, mười đầu ngón tay bị đốt. Mối thù của gia đình, vợ con chết thảm dưới cây roi sắt của giặc. Mối thù của buôn làng, Tnú không bao giờ quên hình ảnh những cánh rừng xà nu bị tàn phá, những người dân vô tội bị sát hại.

+ Khi nhìn cảnh vợ con bị giặt tra tấn, căm thù dồn nén đã biến đôi mắt anh thành hai cục lửa lớn.

+ Khi giặc đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa xà nu, ngay lập tức mười ngón tay Tnú thành mười ngọn đuốc. Snh không cảm thấy mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Tnú thét lên một tiếng, tạo thành sức mạnh căm hờn để dân làng Xô Man vừng lên giết sạch kẻ thù.

+ Tnú dùng chính bàn tay thương tật của mình cầm súng trả thù nhà, nợ nước.

– Tnú có tính kỷ luật cao:

+ Ba năm đi bộ đội, Tnú rất nhớ nhà, nhớ quê hương. Được cấp trên cho phép về một đêm và anh cũng chỉ về một đêm đúng như quy định.

– Ý nghĩa hai bàn tay Tnú:

+ Bàn tay dám cầm đá đập vào đầu để trừng phạt mình vì học hay quên. Bàn tây đã từng đặt lên bụng mình và nói với giặc cộng sản đây này. Bàn tay ấy cũng đã từng che chở cho mẹ con Mai trước đòn roi của giặc.

+ Bàn tay của Tnú là bàn tay của sự hận thù, vì bàn tay ấy đã thành thương tật do giặc Mỹ gây ra. Dù thương tật, nhưng bàn tay ấy vẫn cầm súng mà trả thù nhà, nợ nước.

=> Câu chuyện về cuộc đời và con đường của Tnú mang ý nghĩa tiêu biểu của người anh hùng đại diện cho số phận và con đường của các dân tộc Tây Nguyên trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Với nhân vật Tnú, Nguyễn Trung Thành tiếp tục khẳng định sự thành công của mình khi viết về đề tài Tây Nguyên.

2.2. Nhân vật cụ Mết

– Ngoại hình: Ngoài 60 tuổi mà vẫn khỏe mạnh, bàn tay nặng trịch như cái kìm sắt, râu dài tới ngực mà vẫn đen bóng, mắt sáng và xếch ngược. Ngực căng như một cây xà nu lớn.

– Tính cách:

+ Là một già làng có uy tín, khi cụ nói mọi người đều im bặt, đặc biệt cụ không bao giờ khen tốt, giỏi, vừa ý lắm thì cụ nói được.

+ Có kinh nghiệm trong chiến đấu, cụ biết khi nào là phải nhẫn nhịn, là khi mình chỉ có hai bàn tay không (cụ không cho Tnú vào khi bọn lính đang đánh đập Mai) nhưng cụ lại kịp thời lãnh đạo giết chết mười tên lính.

+ Cụ giáo dục lòng yêu nước và tinh thần cách mạng cho dân làng Xô Man: Đảng còn, núi nước này còn. Cụ dạy cho dân làng Xô Man chống giặc Mĩ bằng con đường vũ trang: chúng nó cầm súng, mình cầm giáo.

– Tình yêu quê hương bản làng:

+ Cụ rất tự hào về bản làng, về con người Strá, cụ nói: Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất núi rừng này đấy. Yêu quê hương bản làng, cụ nuôi dấu cán bộ và quyết cùng dân làng Xô Man đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.

+ Cụ yêu thương dân làng tha thiết: nhường muối cho người đau. Gặp lại Tnú sau ba năm xa cách, cụ vừa vui vừa cảm động và đãi Tnú ăn những món ăn đặc biệt của bản làng.

2.3 Nhân vật Mai

– Là một phụ nữ thông minh, dịu dàng, thủy chung và kiên cường.

– Thuở nhỏ, Mai đã là giao liên cùng Tnú vào rừng tiếp tế và bảo vệ cán bộ. Mai thông minh, học chữ giỏi.

– Khi đã trở thành người vợ, người mẹ, Mai dũng cảm lấy thân mình bảo vệ cho đứa con và kiên quyết không khai một lời nào với giặc.

3.4 Nhân vật Dít

– Thuở nhỏ là một cô bé can đảm, nhanh nhẹn.

– Ngày làng bị khủng bố, Dít bò theo máng nước vào rừng tiếp tế lương thực cho bộ đội, bị giặc bắt, giặc bắn dọa: đạn sượt qua tai, sém tóc. Dít khóc thét lên nhưng đến viên thứ mười, nó im lặng và bình thản nhìn bọn giặc.

– Dít căm thù giặc thật là lạnh lùng: Ngày Mai chết cả làng đều khóc, cụ Mết và Tnú khóc riêng Dít không khóc, mà dồn nén yêu thương để nung nấu căm thù bằng cách giã gạo để Tnú đi trả thù cho chị.

– Cô lớn lên trở thành một chi bộ thật vững vàng, nhiệt huyết, công tư rất rõ ràng. Ngày Tnú về thăm làng, cô rất mừng nhưng vẫn hỏi giấy phép.

2.5 Nhân vật bé Heng

– Là một cậu bé lầm lì, ít nói và là một du kích giữ làng tốt.

– Bé Heng rất rành hầm chông hố chông của làng mình.

=> Nhà văn đã khắc họa thành công hình ảnh một tập thể anh hùng của làng Xô Man. Rừng xà nu là một bước tiến xa so với Đất nước tiến lên ở tầm khái quát, sự chọn lọc và dồn nén những cảm xúc.

III. Tổng kết

1. Nội dung

Rừng xà nu là câu chuyện về quá trình trưởng thành trong nhận thức cách mạng của một con người, cũng như của đồng bào Tây Nguyên. Chân lý tất yếu mà họ nhận ra là, chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới có thể đè bẹp bạo lực phản cách mạng.

2. Nghệ thuật

– Tô đậm không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên (bức tranh thiên nhiên; ngôn ngữ, tâm lí, hành động của nhân vật)

– Xây dựng thành công hai tuyến nhân vật đối lập gay gắt: giữa kẻ thù (thằng Dục) với lực lượng cách mạng, đại diện là các thế hệ nối tiếp nhau vừa có những nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu (cụ Mết, Tnú, Dít,…)

– Nghệ thuật trần thuật sinh động (đan cài câu chuyện về cuộc đời Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man; xen kẽ thời gian kể chuyện và thời gian của các sự kiện; phối hợp các điểm nhìn,…) tạo nên giọng điệu, âm hưởng phù hợp với không gian Tây Nguyên