Đáp án đề thi thử THPT Quốc gia 2019 môn Văn – Sở GD Hà Nội

43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

ĐỀ CHÍNH THỨC (Đề có 02 trang)

KỲ KIẾM TRA KHẢO SÁT LỚP 12 THPT NĂM 2019
Bài kiểm tra môn: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

“14.7 [69]

Hôm nay là ngày sinh của ba, mình nhớ lại ngày đó giữa bom rơi đạn nổ. Mới hôm qua một tràng pháo bất ngờ đã giết chết năm người và làm bị thương hai người. Mình cũng nằm trong làn đạn lửa của những trái pháo cực nặng ấy. Mọi người còn chưa qua cái ngạc nhiên lo sợ. Vậy mà mình vẫn như xưa nay, nhớ thương, lo lắng và say tự đè nặng trong lòng. Ba má và các em yêu thương, ở ngoài đó ba má và các em làm sao thấy hết được cuộc sống ở đây. Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết chóc hy sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm. Vậy mà người ta vẫn bền gan chiến đấu. Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc. Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu. Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc.”

(Trích Nhật ký Đặng Thùy Trâm, NXB Hội Nhà văn, 2016, tr.160)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Những từ ngữ, hình ảnh nào trong đoạn trích thể hiện sự ác liệt của chiến tranh?

Câu 2. Trong đoạn trích, nỗi nhớ thương của người viết hướng đến những ai? Tình cảm đó cho thấy tác giả nhật ký là người như thế nào?

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: “Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết chóc hy sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm.”

Câu 4. Suy nghĩ của anh/chị về dòng tâm sự của nữ liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm: “Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc.”

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Từ nội dung được gợi ra ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về thế hệ thanh niên trong những tháng năm “bom rơi đạn nổ”.

Câu 2 (5.0 điểm)

Về bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh, có ý kiến nhận xét: Đó là những vần thơ thể hiện một tình yêu vừa rộng mở, lớn lao lại vừa thân thương, gần gũi. Anh/chị hãy phân tích hai đoạn thơ sau để làm sáng tỏ nhận định trên:

“…Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Ôi con sông nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”

(Trích Sóng, Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, Tập1,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.155)

………..Hết…………

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

PhầnCâuGợi ý
IĐỌC HIỂU
1Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự ác liệt của chiến tranh: bom rơi đạn nổ; tràng pháo bất ngờ đã giết chết năm người và làm bị thương hai người; nằm trong làn đạn lửa của những trái pháo; chết chóc hy sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm.
2Đoạn trích hướng tới ba má và các em yêu thương.

Tình cảm đó cho thấy người viết nhật ký là người: sống tình cảm luôn hướng về người thân, ưa bày tỏ tâm tư, chia sẻ.

3– Biện pháp tu từ so sánh (so sánh không ngang bằng): chết chóc hy sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm.

– Tác dụng:

+ Nhấn mạnh sự khốc liệt, dữ dội của chiến tranh và sự hy sinh, chết chóc nơi chiến trường diễn ra với tần suất lớn, quá dễ dàng.

+ Làm câu văn trở nên sinh động, giàu hình ảnh.

4Học sinh đưa ra suy nghĩ về dòng tâm sự của nữ liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Gợi ý:

– Con người sống gắn với thực tế và hiểu hoàn cảnh chung của đất nước.

– Con người hòa chung với quyết tâm đấu tranh, sẵn sàng hy sinh thân mình vì nền độc lập, sự nghiệp của dân tộc.

II

LÀM VĂN

1Trình bày suy nghĩ của bản thân về thế hệ thanh niên trong những tháng năm “bom rơi đạn nổ”.
a. Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Suy nghĩ của bản thân về thế hệ thanh niên trong những tháng năm “bom rơi đạn nổ”.

c. Triển khai vấn đề nghị luận

Học sinh trình bày suy nghĩ về vấn đề nghị luận dựa trên những gợi ý sau đây:

– Thế hệ thanh niên trong tháng năm “bom rơi đạn nổ” là một thế hệ trẻ sẵn sàng rời bỏ nhà trường, gia đình, quê hương tham gia vào chiến trường.

– Thế hệ trẻ gan góc, kiên cường, anh dũng, sẵn sàng hy sinh bản thân mình để hoàn thành các nhiệm vụ của dân tộc.

– Dù trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt, nhưng thế hệ trẻ vẫn luôn thể hiện sự hồn nhiên, trong sáng và yêu đời.

– Mở rộng và liên hệ: Thế hệ trẻ hiện nay cũng trải qua tháng năm “bom rơi đạn nổ” trên các mặt trận kinh tế – văn hóa, xã hội: học tập, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, vượt qua mọi khó khăn thử thách, bắt kịp đà phát triển của thế giới trong thời đại 4.0.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

d. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

2Về bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh, có ý kiến nhận xét: Đó là những vần thơ thể hiện một tình yêu vừa rộng mở, lớn lao lại vừa thân thương, gần gũi. Qua hai đoạn thơ trong bài “Sóng”, anh/chị hãy phân tích để làm sáng tỏ nhận định trên.
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Phân tích hai đoạn thơ trong bài thơ “Sóng” để làm rõ ý kiến nhận xét: “Đó là những vần thơ thể hiện một tình yêu vừa rộng mở, lớn lao lại vừa thân thương, gần gũi”.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, đảm bảo các yêu cầu sau:

*Giới thiệu khái quát về tác giả Xuân Quỳnh và bài thơ “Sóng” cũng như hai đoạn thơ cần phân tích.

*Đoạn thơ 1: Khát vọng lớn lao, rộng mở trong tình yêu

-Xuân Quỳnh đã phát hiện ra một quy luật: tình yêu luôn gắn liền với tuổi trẻ, cũng “bồi hồi” luôn thường trực trong trái tim của người trẻ một cách trường tồn, vĩnh hằng giống như con sóng “ngày xưa, ngày sau”, vẫn tồn tại, chuyển động, “dữ dội, dịu êm và ồn ào, lặng lẽ” luôn khát khao được hướng đến bể rộng.

-Tác giả đã đặt sóng trong thời gian đối lập và vĩnh hằng “ngày xưa”, “ngày sau” để khẳng định quy luật tất yếu của sóng, đó cũng là quy luật tất yếu trong tình yêu của người trẻ tuổi.

→Nhà thơ đã chỉ ra quy luật trong tình yêu của con người với nhiều cung bậc khác nhau; khát vọng lớn lao, rộng mở trong tình yêu cũng giống như quy luật trong tự nhiên của sóng.

*Đoạn thơ 2: Nỗi nhớ vừa da diết mãnh liệt vừa gần gũi trong tình yêu

– Dù bất lực trong hành trình tìm kiếm nguồn gốc của tình yêu nhưng Xuân Quỳnh đã phát hiện ra được biểu hiện của tình yêu, đó là nỗi nhớ.

+Nhà thơ đã liên tưởng và nhân hóa hình tượng sóng cũng như đặt sóng trong không gian đối lập để thấy rằng sóng vì nhớ tới bờ mà luôn vỗ miên man, vô hồi, vô tận bất kể ngày đêm.

+Cách dùng từ để thể hiện nỗi nhớ bờ của sóng hết sức sáng tạo, độc đáo qua việc dùng từ tương phản “ngày, đêm” góp phần thể hiện nỗi nhớ của sóng mãnh liệt vượt qua cả thời gian để hướng đến bờ.

+Từ chỗ diễn tả nỗi nhớ bờ của sóng nhà thơ đã liên tưởng đến nỗi nhớ trong tình yêu của em. Nếu sóng nhớ bờ vượt qua thời gian ngày đêm thì nỗi nhớ của em dành cho anh còn vượt qua cả giới hạn “ngày đêm” để nỗi nhớ tràn vào trong tâm thức.

→ Bao trùm cả đoạn thơ là nỗi nhớ, nỗi nhớ phải chăng trở thành biểu tượng trong tình yêu. Nỗi nhớ của tình yêu như trăm ngàn con sóng vỗ bờ vô hồi, vô tận và không ngừng nghỉ. Việc sử dụng các từ đối lập “ngày – đêm”, “thức – ngủ” đều nhằm thể hiện nỗi nhớ vừa mãnh liệt vừa thân thương, gần gũi trong tình yêu.

· Nhận xét:

– Thông qua hình tượng sóng, nhà thơ Xuân Quỳnh đã thể hiện một tình yêu truyền thống với những yêu thương, gần gũi; nhưng cũng đầy lớn lao và rộng mở khi chủ động bày tỏ những khát vọng, cảm xúc mãnh liệt của người con gái hiện đại trong tình yêu.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.